KẾ TOÁN TÀI CHÍNH 1

Course categoryNăm 2025

Tên Môn học: KẾ TOÁN TÀI CHÍNH 1

Mã số môn học: MH 16

Thời gian môn học:  120 giờ (Lý thuyết: 60 giờ; Thực hành, thí nghiệm, thảo luận, bài tập: 54; kiểm tra: 6 giờ)

Môn học kế toán tài chính 1 là môn học thuộc khối các môn học chuyên môn trong chương trình đào tạo nghề kế toán doanh nghiệp trình độ trung cấp.

KỸ THUẬT NUÔI VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO TRÂU, BÒ

Course categoryBộ môn Nông nghiệp

Mục tiêu mô đun:

       +  Kiến thức:

- Hiểu được đặc điểm sinh học của trâu, bò

- Hiểu được nguồn gốc, đặc điểm, khả năng sản xuất của các giống trâu, bò thường được nuôi trên thế giới và trong nước

- Hiểu được đặc điểm của trâu, bò đạt được yêu cầu theo hướng sản xuất khác nhau.

- Nắm được nhu cầu, tính toán được diện tích, cách thiết kế chuồng trai trâu, bò cho phù hợp

- Tính toán được nhu cầu dinh dưỡng của từng loại trâu, bò; Chọn nguyên liệu phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của trâu, bò

- Nắm được kỹ thuật chăn nuôi trâu bò cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển

- Nắm được nguyên nhân, triệu chứng, bệnh tích, cách phòng và  trị các bệnh trường gặp trên trâu, bò

       + Kỹ năng:

- Phân biệt và nêu tên được các giống trâu, bò

- Thiết kế được chuồng trâu bò đạt yêu cầu

- Sản xuất chế biến thức ăn cho trâu, bò đảm bảo yêu cầu kỹ thuật

            - Thực hiện được qui trình chăm sóc nuôi dưỡng trâu bò đúng kỹ thuật

            - Thực hiện được việc chẩn đoán, phòng và trị các bệnh trường gặp trên trâu, bò.

       + Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Trau dồi tính yêu thích nghề nghiệp, rèn luyện tính cần cù cẩn thận trong nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho trâu, bò

Bài 1:   MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CẦN BIẾT VỀ TRÂU BÒ

1.1. Đặc điểm tiêu hóa

Chức năng các bộ phận của đường tiêu hoá

Dạ dày kép : Cấu tạo dạ dày kép của gia súc nhai lại.

Đường tiêu hoá của gia súc nhai lại được đặc trưng bởi hệ dạ dày kép gồm 4 túi trong đó ba túi trước (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách) được gọi chung là là dạ dày trước, không có tuyến tiêu hoá riêng. Túi thứ 4, gọi là dạ múi khế, tương tự như dạ dày của động vật dạ dày đơn, có hệ thống tuyến tiêu hoá phát triển mạnh. Đối với gia súc non bú sữa dạ cỏ và dạ tổ ong kém phát triển, còn sữa sau khi xuống qua thực quản được dẫn trực tiếp xuống dạ lá sách và dạ múi khế qua rãnh thực quản. Rãnh thực quản gồm có đáy và hai mép. Hai mép này khi khép lại sẽ tạo ra một cái ống để dẫn thức ăn lỏng. Khi bê bắt đầu ăn thức ăn cứng thì dạ cỏ và dạ tổ ong phát triển nhanh và đến khi trưởng thành thì chiếm đến khoảng 85% tổng dung tích dạ dày nói chung. Trong điều kiện bình thường ở gia súc trưởng thành rãnh thực quản không hoạt động nên cả thức ăn và nước uống đều đi thẳng vào dạ cỏ và dạ tổ ong. 

- Dạ cỏ: là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nửa trái của xoang bụng, từ cơ hoành đến xương chậu. Dạ cỏ chiếm 85-90% dung tích dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hoá, có tác dụng tích trữ, nhào trộn và chuyển hoá thức ăn. Dạ cỏ không có tuyến tiêu hoá mà niêm mạc có nhiều núm hình gai. Sự tiêu hoá thức ăn trong đó là nhờ hệ vi sinh vật (VSV) cộng sinh. Dạ cỏ có môi trường thuận lợi cho VSV lên men yếm khí: yếm khí, nhiệt độ tương đối ổn định trong khoảng 38-42oC, pH từ 5,5-7,4. Hơn nữa dinh dưỡng được bổ sung đều đặn từ thức ăn, còn thức ăn không lên men cùng các chất dinh dưỡng hoà tan và sinh khối VSV được thường xuyên chuyển xuống phần dưới của đường tiêu hoá.

Có tới khoảng 50-80% các chất dinh dưỡng thức ăn được lên men ở dạ cỏ. Sản phẩm lên men chính là các a-xit béo bay hơi (ABBH), sinh khối VSV và các khí thể (metan và cacbonic). Phần lớn ABBH được hấp thu qua vách dạ cỏ trở thành nguồn năng lượng chính cho gia súc nhai lại. Các khí thể được thải ra ngoài qua phản xạ ợ hơi. Trong dạ cỏ còn có sự tổng hợp các vitamin nhóm B và vitamin K. Sinh khối VSV và các thành phần không lên men được chuyển xuống phần dưới của đường tiêu hoá.

- Dạ tổ ong: là túi nối liền với dạ cỏ, niêm mạc có cấu tạo giống như tổ ong. Dạ tổ ong có chức năng chính là đẩy các thức ăn rắn và các thức ăn chưa được nghiền nhỏ trở lại dạ cỏ, đồng thời đẩy các thức ăn dạng nước vào dạ lá sách. Dạ tổ ong cũng giúp cho việc đẩy các miếng thức ăn lên miệng để nhai lại. Sự lên men và hấp thu các chất dinh dưỡng trong dạ tổ ong tương tự như ở dạ cỏ.
 - Dạ lá sách: là túi thứ ba, niêm mạc được cấu tạo thành nhiều nếp gấp (tương tự các tờ giấy của quyển sách). Dạ lá sách có nhiệm vụ chính là nghiền ép các tiểu phần thức ăn, hấp thu nước, muối khoáng và các a-xit béo bay hơi trong dưỡng chấp đi qua.

 - Dạ múi khế: là dạ dày tuyến gồm có thân vị và hạ vị. Các dịch tuyến múi khế được tiết liên tục vì dưỡng chấp từ dạ dày trước thường xuyên được chuyển xuống. Dạ múi khế có chức năng tiêu hoá men tương tự như dạ dày đơn nhờ có HCl, pepsin, kimozin và lipaza.

Tuyến nước bọt:

Nước bọt ở trâu bò được phân tiết và nuốt xuống dạ cỏ tương đối liên tục. Nước bọt có kiềm tính nên có tác dụng trung hoà các sản phẩm axit sinh ra trong dạ cỏ. Nó còn có tác dụng quan trọng trong việc thấm ướt thức ăn, giúp cho quá trình nuốt và nhai lại được dễ dàng. Nước bọt còn cung cấp cho môi trường dạ cỏ các chất điện giải như Na+, K+, Ca++, Mg++. Đặc biệt trong nước bọt còn có urê và phốt-pho, có tác dụng điều hoà dinh dưỡng N và P cho nhu cầu của VSV dạ cỏ, đặc biệt là khi các nguyên tố này bị thiếu trong khẩu phần. Sự phân tiết nước bọt chịu tác động bởi bản chất vật lý của thức ăn, hàm lượng vật chất khô trong khẩu phần, dung tích đường tiêu hoá và trạng thái tâm-sinh lý. Trâu bò ăn nhiều thức ăn xơ thô sẽ phân tiết nhiều nước bọt. Ngược lại trâu bò ăn nhiều thức ăn tinh, thức ăn nghiền quá nhỏ sẽ giảm tiết nước bọt nên tác dụng đệm đối với dịch dạ cỏ sẽ kém và kết quả là tiêu hoá thức ăn xơ sẽ giảm xuống.

Ruột

Quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non của gia súc nhai lại cũng diễn ra tương tự như ở gia súc dạ dày đơn nhờ các men tiêu hoá của dịch ruột, dịch tuỵ và sự tham gia của dịch mật. Trong ruột già có sự lên men VSV lần thứ hai. Sự tiêu hoá ở ruột già có ý nghĩa đối với các thành phần xơ chưa được phân giải hết ở dạ cỏ. Các ABBH sinh ra trong ruột già được hấp thu và sử dụng, nhưng protein VSV thì bị thải ra ngoài qua phân mà không được tiêu hoá sau đó như ở phần trên.
Sự nhai lại Sơ đồ 1-2: Sự nhai lại thức ăn (DeLaval, 2002)
Thức ăn sau khi ăn được nuốt xuống dạ cỏ và lên men ở đó. Phần thức ăn chưa được nhai kỹ nằm trong dạ cỏ và dạ tổ ong thỉnh thoảng lại được ợ lên xoang miệng với những miếng không lớn và được nhai kỹ lại ở miệng. Khi thức ăn đã được nhai lại kỹ và thấm nước bọt lại được nuốt trở lại dạ cỏ (Sơ đồ 1-2).
Sự nhai lại được diễn ra 5-6 lần trong ngày, mỗi lần kéo dài khoảng 50 phút. Thời gian nhai lại phụ thuộc vào bản chất vật lý của thức ăn, trạng thái sinh lý của con vật, cơ cấu khẩu phần, nhiệt độ môi trường v.v... Thức ăn thô trong khẩu phần càng ít thì thời gian nhai lại càng ngắn. Trong điều kiện yên tĩnh gia súc sẽ bắt đầu nhai lại (sau khi ăn) nhanh hơn. Cường độ nhai lại mạnh nhất vào buổi sáng và buổi chiều. Hiện tượng nhai lại bắt đầu xuất hiện khi bê được cho ăn thức ăn thô.
Hệ vi sinh vật dạ cỏ. Hệ vi sinh vật dạ cỏ rất phức tạp và phụ thuộc nhiều vào khẩu phần. Hệ vi sinh vật dạ cỏ gồm có 3 nhóm chính:

Vi khuẩn (Bacteria), động vật nguyên sinh (Protozoa) và nấm (Fungi).

Vi khuẩn (Bacteria) Vi khuẩn xuất hiện trong dạ cỏ loài nhai lại trong lứa tuổi còn non, mặc dù chúng được nuôi cách biệt hoặc cùng với mẹ chúng. Thông thường vi khuẩn chiếm số lượng lớn nhất trong VSV dạ cỏ và là tác nhân chính trong quá trình tiêu hóa xơ. Tổng số vi khuẩn trong dạ cỏ thường là 109-1011 tế bào/g chất chứa dạ cỏ. Trong dạ cỏ vi khuẩn ở thể tự do chiếm khoảng 30%, số còn lại bám vào các mẩu thức ăn, trú ngụ ở các nếp gấp biểu mô và bám vào protozoa.
Trong dạ cỏ có khoảng 60 loài vi khuẩn đã được xác định. Sự phân loại vi khuẩn dạ cỏ có thể được tiến hành dựa vào cơ chất mà vi khuẩn sử dụng hay sản phẩm lên men cuối cùng của chúng. Sau đây là một số nhóm vi khuẩn dạ cỏ chính:
- Vi khuẩn phân giải xenluloza. Vi khuẩn phân giải xenluloza có số lượng rất lớn trong dạ cỏ của những gia súc sử dụng khẩu phần giàu xenluloza. Những loài vi khuẩn phân giải xenluloza quan trọng nhất là Bacteroides succinogenes, Butyrivibrio fibrisolvens, Ruminoccocus flavefaciens, Ruminococcus albus, Cillobacterium cellulosolvens.

- Vi khuẩn phân giải hemixenluloza. Hemixenluloza khác xenluloza là chứa cả đường pentoza và hexoza và cũng thường chứa axit uronic. Những vi khuẩn có khả năng thuỷ phân xenluloza thì cũng có khả năng sử dụng hemixenluloza. Tuy nhiên, không phải tất cả các loài sử dụng được hemixenluloza đều có khả năng thuỷ phân xenluloza. Một số loài sử dụng hemixenluloza là Butyrivibrio fibrisolvens, Lachnospira multiparus và Bacteroides ruminicola. Các loài vi khuẩn phân giải hemixenluloza cũng như vi khuẩn phân giải xenluloza đều bị ức chế bởi pH thấp.
- Vi khuẩn phân giải tinh bột. Trong dinh dưỡng carbohydrat của loài nhai lại, tinh bột đứng vị trí thứ hai sau xenluloza. Phần lớn tinh bột theo thức ăn vào dạ cỏ, được phân giải nhờ sự hoạt động của VSV. Tinh bột được phân giải bởi nhiều loài vi khuẩn dạ cỏ, trong đó có những vi khuẩn phân giải xenluloza. Những loài vi khuẩn phân giải tinh bột quan trọng là Bacteroides amylophilus, Succinimonas amylolytica, Butyrivibrio fibrisolbvens, Bacteroides ruminantium, Selenomonas ruminantium và Steptococcus bovis.

- Vi khuẩn phân giải đường. Hầu hết các vi khuẩn sử dụng được các loại polysaccharid nói trên thì cũng sử dụng được đường disaccharid và đường monosaccharid. Celobioza cũng có thể là nguồn năng lượng cung cấp cho nhóm vi khuẩn này vì chúng có men bêta- glucosidaza có thể thuỷ phân cellobioza. Các vi khuẩn thuộc loài Lachnospira multiparus, Selenomonas ruminantium... đều có khả năng sử dụng tốt hydratcacbon hoà tan.

- Vi khuẩn sử dụng các axit hữu cơ. Hầu hết các vi khuẩn đều có khả năng sử dụng axit lactic mặc dù lượng axit này trong dạ cỏ thường không đáng kể trừ trong những trường hợp đặc biệt. Một số có thể sử dụng axit succinic, malic, fumaric, formic hay acetic. Những loài sử dụng axit lactic là Veillonella gazogenes, Veillonella alacalescens, Peptostreptococcus elsdenii, Propioni bacterium và Selenomonas lactilytica.

- Vi khuẩn phân giải protein. Trong số những loài vi khuẩn phân giải protein và sinh amoniac thì Peptostreptococus và Clostridium có khả năng lớn nhất. Sự phân giải protein và axit amin để sản sinh ra amoniac trong dạ cỏ có ý nghĩa quan trọng đặc biệt cả về phương diện tiết kiệm nitơ cũng như nguy cơ dư thừa amoniac. Amoniac cần cho các loài vi khuẩn dạ cỏ để tổng hợp nên sinh khối protein của bản thân chúng, đồng thời một số vi khuẩn đòi hỏi hay được kích thích bởi axit amin, peptit và isoaxit có nguồn gốc từ valine, leucine và isoleucine. Như vậy cần phải có một lượng protein được phân giải trong dạ cỏ để đáp ứng nhu cầu này của vi sinh vật dạ cỏ.

- Vi khuẩn tạo mêtan. Nhóm vi khuẩn này rất khó nuôi cấy trong ống nghiệm, cho nên những thông tin về những VSV này còn hạn chế. Các loài vi khuẩn của nhóm này là Methano baccterium, Methano ruminantium và Methano forminicum.
- Vi khuẩn tổng hợp vitamin. Nhiều loài vi khuẩn dạ cỏ có khả năng tổng hợp các vitamin nhóm B và vitamin K.

Động vật nguyên sinh (Protozoa); Protozoa xuất hiện trong dạ cỏ khi gia súc bắt đầu ăn thức ăn thực vật thô. Sau khi đẻ và trong thời gian bú sữa dạ dày trước không có protozoa. Protozoa không thích ứng với môi trường bên ngoài và bị chết nhanh. Trong dạ cỏ protozoa có số lượng khoảng 105-106 tế bào/g chất chứa dạ cỏ. Có khoảng 120 loài protozoa trong dạ cỏ. Mỗi loài gia súc có số loài protozoa khác nhau.
Protozoa trong dạ cỏ thuộc lớp Ciliata có hai lớp phụ là Entodiniômrphidia và Holotrica. Phần lớn động vật nguyên sinh dạ cỏ thuộc nhóm Holotrica có đặc điểm là ở đường xoắn gần miệng có tiêm mao, còn tất cả chỗ còn lại của cơ thể có rất ít tiêm mao.

Protozoa có một số tác dụng chính như sau:

- Tiêu hoá tinh bột và đường. Tuy có một vài loại protozoa có khả năng phân giải xenluloza nhưng cơ chất chính vẫn là đường và tinh bột, vì thế mà khi gia súc ăn khẩu phần nhiều bột đường thì số lượng protozoa tăng lên.
- Xé rách màng tế bào thực vật. Tác dụng này có được thông qua tác động cơ học và làm tăng diện tích tiếp xúc của thức ăn, do đó mà thức ăn dễ dàng chịu tác động của vi khuẩn.

- Tích luỹ polysaccarit. Protozoa có khả năng nuốt tinh bột ngay sau khi ăn và dự trữ dưới dạng amylopectin. Polysaccarit này có thể được phân giải về sau hoặc không bị lên men ở dạ cỏ mà được phân giải thành đường đơn và được hấp thu ở ruột. Điều này không những quan trọng đối với protozoa mà còn có ý nghĩa dinh dưỡng cho gia súc nhai lại nhờ hiệu ứng đệm chống phân giải đường quá nhanh làm giảm pH đột ngột, đồng thời cung cấp năng lượng từ từ hơn cho nhu cầu của bản thân VSV dạ cỏ trong những thời gian xa bữa ăn.
- Bảo tồn mạch nối đôi của các axit béo không no. Các axit béo không no mạch dài quan trọng đối với gia súc (linoleic, linolenic) được protozoa nuốt và đưa xuống phần sau của đường tiêu hoá để cung cấp trực tiếp cho vật chủ, nếu không các axit béo này sẽ bị làm no hoá bởi vi khuẩn. Tuy nhiên gần đây nhiều ý kiến cho rằng protozoa trong dạ cỏ có một số tác hại nhất định:

- Protozoa không có khả năng sử dụng NH3 như vi khuẩn. Nguồn nitơ đáp ứng nhu cầu của chúng là những mảnh protein thức ăn và vi khuẩn. Nhiều nghiên cứu cho thấy protozoa không thể xây dựng protein bản thân từ các amit được. Khi mật độ protozoa trong dạ cỏ cao thì một tỷ lệ lớn vi khuẩn bị protozoa thực bào. Mỗi protozoa có thể thực bào 600-700 vi khuẩn trong một giờ ở mật độ vi khuẩn 109/ml dịch dạ cỏ. Do có hiện tượng này mà protozoa đã làm giảm hiệu quả sử dụng protein nói chung. Protozoa cũng góp phần làm tăng nồng độ amoniac trong dạ cỏ do sự phân giải protein của chúng.

- Protozoa không tổng hợp được vitamin mà sử dụng vitamin từ thức ăn hay do vi khuẩn tạo nên nên làm giảm rất nhiều vitamin cho vật chủ.

Nấm (Fungi)

Nấm trong dạ cỏ thuộc loại yếm khí. Nấm là vi sinh vật đầu tiên xâm nhập và tiêu hoá thành phần cấu trúc thực vật bắt đầu từ bên trong. Những loài nấm được phân lập từ dạ cỏ cừu gồm: Neocallimastix frontalis, Piramonas communis và Sphaeromonas communis.

Chức năng của nấm trong dạ cỏ là:

- Mọc chồi phá vỡ cấu trúc thành tế bào thực vật, làm giảm độ bền chặt của cấu trúc này, góp phần làm tăng sự phá vỡ các mảnh thức ăn trong quá trình nhai lại. Sự phá vỡ này tạo điều kiện cho bacteria và men của chúng bám vào cấu trúc tế bào và tiếp tục quá trình phân giải xenluloza.

- Mặt khác, nấm cũng tiết ra các loại men tiêu hoá xơ. Phức hợp men tiêu hoá xơ của nấm dễ hoà tan hơn so với men của vi khuẩn. Chính vì thế nấm có khả năng tấn công các tiểu phần thức ăn cứng hơn và lên men chúng với tốc độ nhanh hơn so với vi khuẩn. Như vậy sự có mặt của nấm giúp làm tăng tốc độ tiêu hoá xơ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với việc tiêu hoá thức ăn xơ thô bị lignin hoá.
Tác động tương hỗ của vi sinh vật trong dạ cỏ

Vi sinh vật dạ cỏ, cả ở thức ăn và ở biểu mô dạ cỏ, kết hợp với nhau trong quá trình tiêu hoá thức ăn, loài này phát triển trên sản phẩm của loài kia. Sự phối hợp này có tác dụng giải phóng sản phẩm phân giải cuối cùng của một loài nào đó, đồng thời tái sử dụng những yếu tố cần thiết cho loài sau. Ví dụ, vi khuẩn phân giải protein cung cấp amôniac, axit amin và isoaxit cho vi khuẩn phân giải xơ. Quá trình lên men dạ cỏ là liên tục và bao gồm nhiều loài tham gia.

Trong điều kiện bình thường giữa vi khuẩn và protozoa cũng có sự cộng sinh có lợi, đặc biệt là trong tiêu hoá xơ. Tiêu hoá xơ mạnh nhất khi có mặt cả vi khuẩn và protozoa. Một số vi khuẩn được protozoa nuốt vào có tác dụng lên men trong đó tốt hơn vì mỗi protozoa tạo ra một kiểu “dạ cỏ mini” với các điều kiện ổn định cho vi khuẩn hoạt động. Một số loài ciliate còn hấp thu ôxy từ dịch dạ cỏ giúp đảm bảo cho điều kiện yếm khí trong dạ cỏ được tốt hơn. Protozoa nuốt và tích trữ tinh bột, hạn chế tốc độ sinh axit lactic, hạn chế giảm pH đột ngột, nên có lợi cho vi khuẩn phân giải xơ. Tuy nhiên giữa các nhóm vi khuẩn khác nhau cũng có sự cạnh tranh điều kiện sinh tồn của nhau. Chẳng hạn, khi gia súc ăn khẩu phần ăn giàu tinh bột nhưng nghèo protein thì số lượng vi khuẩn phân giải xenluloza sẽ giảm và do đó mà tỷ lệ tiêu hoá xơ thấp. Đó là vì sự có mặt của một lượng đáng kể tinh bột trong khẩu phần kích thích vi khuẩn phân giải bột đường phát triển nhanh nên sử dụng cạn kiệt những yếu tố dinh dưỡng quan trọng (như các loại khoáng, amoniac, axit amin, isoaxit) là những yếu tố cũng cần thiết cho vi khuẩn phân giải xơ vốn phát triển chậm hơn.

Liên quan giữa pH và hoạt lực của các nhóm VSV dạ cỏ
Mặt khác, tương tác tiêu cực giữa vi khuẩn phân giải bột đường và vi khuẩn phân giải xơ còn liên quan đến pH trong dạ cỏ (Sơ đồ 1-3). Chenost và Kayouli (1997) giải thích rằng quá trình phân giải chất xơ của khẩu phần diễn ra trong dạ cỏ có hiệu quả cao nhất khi pH dịch dạ cỏ >6,2, ngược lại quá trình phân giải tinh bột trong dạ cỏ có hiệu quả cao nhất khi pH <6,0. Tỷ lệ thức ăn tinh quá cao trong khẩu phần sẽ làm cho ABBH sản sinh ra nhanh, làm giảm pH dịch dạ cỏ và do đó mà ức chế hoạt động của vi khuẩn phân giải xơ. Tác động tiêu cực cũng có thể thấy rõ giữa protozoa và vi khuẩn. Như đã trình bày ở trên, protozoa ăn và tiêu hoá vi khuẩn, do đó làm giảm tốc độ và hiệu quả chuyển hoá protein trong dạ cỏ. Với những loại thức ăn dễ tiêu hoá thì điều này không có ý nghĩa lớn, song đối với thức ăn nghèo N thì protozoa sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn nói chung. Loại bỏ protozoa khỏi dạ cỏ làm tăng số lượng vi khuẩn trong dạ cỏ. Thí nghiệm trên cừu cho thấy tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô tăng 18% khi không có protozoa trong dạ cỏ (Preston và Leng, 1991).

Như vậy, cấu trúc khẩu phần ăn của động vật nhai lại có ảnh hưởng rất lớn đến sự tương tác của hệ VSV dạ cỏ. Khẩu phần giàu các chất dinh dưỡng không gây sự cạnh tranh giữa các nhóm VSV, mặt cộng sinh có lợi có xu thế biểu hiện rõ. Nhưng khẩu phần nghèo dinh dưỡng sẽ gây ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhóm VSV, ức chế lẫn nhau, tạo khuynh hướng bất lợi cho quá trình lên men thức ăn nói chung.

Vai trò của vi sinh vật dạ cỏ đối với vật chủ

Phân giải gluxit

Gluxit của thức ăn được phân giải bởi VSV trong dạ cỏ. Quá trình phân giải này của VSV rất quan trọng bởi vì 60-90% gluxit (carbohydrat) của khẩu phần, kể cả vách tế bào thực vật, được lên men trong dạ cỏ:

 Tóm tắt quá trình chuyển hoá hydratcarbon trong dạ cỏ

Vách tế bào là thành phần quan trọng của thức ăn xơ thô được phân giải một phần bởi VSV nhờ có men phân giải xơ (xenlulaza) do chúng tiết ra. Quá trình phân giải các carbohydrat phức tạp sinh ra các đường đơn. Đối với gia súc dạ dày đơn thì đường đơn, như glucoza, là sản phẩm cuối cùng được hấp thu, nhưng đối với gia súc nhai lại thì đường đơn được VSV dạ cỏ lên men để tạo ra các ABBH. Phương trình tóm tắt mô tả sự lên men glucoza, sản phẩm trung gian của quá trình phân giải các gluxit phức tạp, để tạo các ABBH như sau:

Axit axetic C6H12O6 + 2H2O ----> 2CH3COOH + 2CO2 + 4H2
Axit propionic C6H12O6 + 2H2 ------> 2CH3CH2COOH + 2H2O
Axit butyric C6H12O6 -------> CH3-CH2CH2COOH + 2CO2 + 2 H2
Khí mê tan m4H2 + CO2 -------> CH4 + 2H2O
Như vậy, sản phẩm cuối cùng của sự lên men carbohydrat thức ăn bởi VSV dạ cỏ gồm:
- Các axit béo bay hơi, chủ yếu là a. axetic (C2), a.propyonic (C3), a. butyric (C4) và một lượng nhỏ các axit khác (izobytyric, valeric, izovaleric). Các ABBH này được hấp thu qua vách dạ cỏ vào máu và là nguồn năng lượng chính cho vật chủ. Chúng cung cấp khoảng 70-80% tổng số năng lượng được gia súc nhai lại hấp thu. Trong khi đó gia súc dạ dày đơn lấy năng lượng chủ yếu từ glucoza và lipit hấp thu ở ruột. Tỷ lệ giữa các ABBH phụ thuộc vào bản chất của các loại gluxit có trong khẩu phần.

Các ABBH được sinh ra trong dạ cỏ được cơ thể bò sữa sử dụng vào các mục đích khác nhau:

- Axít acetic (CH3COOH ) được bò sữa sử dụng chủ yếu để cung cấp năng lượng thông qua chu trình Creb sau khi được chuyển hoá thành axetyl-CoA. Nó cũng là nguyên liệu chính để sản xuất ra các loại mỡ, đặc biệt là mỡ sữa.
- Axít propionic (CH3CH2COOH ) chủ yếu được chuyển đến gan, tại đây nó được chuyển hoá thành đường glucoza. Từ gan glucoza sẽ được chuyển vào máu nhằm bảo đảm sự ổn định nồng độ glucoza huyết và tham gia vào trao đổi chung của cơ thể. Đường glucoza được bò sữa sử dụng chủ yếu làm nguồn năng lượng cho các hoạt động thần kinh, nuôi thai và hình thành đường lactoza trong sữa. Một phần nhỏ axit lactic sau khi hấp thu qua vách dạ cỏ được chuyển hoá ngay thành axit lactic và có thể được chuyển hoá tiếp thành glucoza và glycogen.
- Axít butyric(CH3CH2CH2COOH) được chuyển hoá thành bêta-hydroxybutyric khi đi qua vách dạ cỏ, sau đó được sử dụng như một nguồn năng lượng bởi một số mô bào, đặc biệt là cơ xương và cơ tim. Nó cũng có thể được chuyển hoá dễ dàng thành xeton và gây độc hại cho bò sữa khi có nồng độ hấp thu quá cao.
Hoạt động lên men gluxit của vi sinh vật dạ cỏ còn giải phóng ra một khối lượng khổng lồ các thể khí, chủ yếu là CO2 và CH4. Các thể khí này không được bò sữa lợi dụng, mà chúng đều được thải ra ngoài cơ thể thông qua phản xạ ợ hơi.
Chuyển hoá các hợp chất chứa nitơ

Các hợp chất chứa nitơ, bao gồm cả protein và phi protein, khi được ăn vào dạ cỏ sẽ bị VSV phân giải). Mức độ phân giải của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là độ hoà tan. Các nguồn nitơ phi protein (NPN) trong thức ăn, như urê, hoà tan hoàn toàn và nhanh chóng phân giải thành amôniac.
Trong khi tất cả NPN được chuyển thành amoniac trong dạ cỏ, thì có một phần - nhiều hay ít tùy thuộc vào bản chất của thức ăn - protein thật của khẩu phần được VSV dạ cỏ phân giải thành amoniac. Amôniac trong dạ cỏ là yếu tố cần thiết cho sự tăng sinh của hầu hết các loài vi khuẩn trong dạ cỏ. Các vi khuẩn này sử dụng amôniac để tổng hợp nên axit amin của chúng. Nó được coi là nguồn nitơ chính cho nhiều loại vi khuẩn, đặc biệt là những vi khuẩn tiêu hoá xơ và tinh bột.
Sinh khối vi sinh vật sẽ đến dạ múi khế và ruột non theo khối dưỡng chấp. Tại đây một phần protein vi sinh vật này sẽ được tiêu hoá và hấp thu tương tự như đối với động vật dạ dày đơn. Trong sinh khối protein VSV có khoảng 80% là protein thật có chứa đầy đủ các axit amin không thay thế với tỷ lệ cân bằng. Protein thật của VSV được tiêu hoá khoảng 80-85% ở ruột.

Nhờ có VSV dạ cỏ mà gia súc nhai lại ít phụ thuộc vào chất lượng protein thô của thức ăn hơn là động vật dạ dày đơn bởi vì chúng có khả năng biến đổi các hợp chất chứa N đơn giản, như urê, thành protein có giá trị sinh học cao. Bởi vậy để thỏa mãn nhu cầu duy trì bình thường và nhu cầu sản xuất ở mức vừa phải thì không nhất thiết phải cho gia súc nhai lại ăn những nguồn protein có chất lượng cao, bởi vì hầu hết những protein này sẽ bị phân giải thành amôniac; thay vào đó amôniac có thể sinh ra từ những nguồn N đơn giản và rẻ tiền hơn. Khả năng này của VSV dạ cỏ có ý nghĩa kinh tế rất lớn đối với sản xuất vì thức ăn chứa protein thật đắt hơn nhiều so với các nguồn NPN.

 Chuyển hoá lipit

Trong dạ cỏ có hai quá trình trao đổi mỡ có liên quan với nhau: phân giải lipit của thức ăn và tổng hợp mới lipit của VSV. Triaxylglycerol và galactolipit của thức ăn được phân giải và thuỷ phân bởi lipaza VSV. Glyexerol và galactoza được lên men ngay thành ABBH. Các axit béo giải phóng ra được trung hoà ở pH của dạ cỏ chủ yếu dưới dạng muối canxi có độ hoà tan thấp và bám vào bề mặt của vi khuẩn và các tiểu phần thức ăn. Chính vì thế tỷ lệ mỡ quá cao trong khẩu phần thường làm giảm khả năng tiêu hoá xơ ở dạ cỏ. Trong dạ cỏ còn xảy ra quá trình hydrogen hoá và đồng phân hoá các axit béo không no. Các axit béo không no mạch dài (linoleic, linolenic) bị làm bão hoà (hydrogen hoá thành axit stearic) và sử dụng bởi một số vi khuẩn. Một số mạch nối đôi của các axit béo không no có thể không bị hydrogen hoá nhưng được chuyển từ dạng cis sang dạng trans bền vững hơn. Các axit béo có mạch nối đôi dạng trans này có điểm nóng chảy cao hơn và hấp thu (ở ruột non) và chuyển vào mô mỡ làm cho mỡ của gia súc nhai lại có điểm nóng chảy cao.
Vi sinh vật dạ cỏ còn có khả năng tổng hợp lipit có chứa các axit béo lạ (có mạch nhánh và mạch lẻ) do sử dụng các ABBH có mạch nhánh và mạch lẻ được tạo ra trong dạ cỏ. Các axit này sẽ có mặt trong sữa và mỡ cơ thể của vật chủ.
Như vậy, lipit của VSV dạ cỏ là kết quả của việc biến đổi lipit của thức ăn và lipit được tổng hợp mới. Khả năng tiêu hoá mỡ của VSV dạ cỏ rất hạn chế, cho nên khẩu phần nhiều mỡ sẽ cản trở tiêu hoá xơ và giảm thu nhận thức ăn. Tuy nhiên, đối với phụ phẩm xơ hàm lượng mỡ trong đó rất thấp nên dinh dưỡng của gia súc nhai lại ít chịu ảnh hưởng của tiêu hoá mỡ trong dạ cỏ. Cung cấp vitamin Một số nhóm VSV dạ cỏ có khả năng tổng hợp nên các loại viatmin nhóm B và vitamin K.
Giải độc

Nhiều bằng chứng cho thấy VSV dạ cỏ có khả năng thích nghi chống lại một số chất kháng dinh dưỡng. Nhờ khả năng giải độc này mà gia súc nhai lại, đặc biệt là dê, có thể ăn một số loại thức ăn mà gia súc dạ dày đơn ăn thường bị ngộ độc như lá sắn, hạt bông.

Nhận xét chung về tiêu hoá ở gia súc nhai lại

Tác dụng tích cực của VSV dạ cỏ

+ Phân giải được chất xơ nên giảm cạnh tranh thức ăn với người và gia súc cũng như gia cầm khác

+ Sử dụng được NPN nên giảm nhu cầu protein thực trong khẩu phần.
+ Nâng cấp chất lượng protein góp phần giảm nhu cầu axit amin không thay thế.
+ Tổng hợp được một số vitamin (B, K) và do đó mà giảm cung cấp từ thức ăn.
+ Giải độc nhờ VSV dạ cỏ nên gia súc nhai lại ăn được nhiều loại thức ăn.
 Tác động tiêu cực của tiêu hoá dạ cỏ

+ Làm mất mát năng lượng thức ăn do lên men (nhiệt, mêtan) và năng lượng mang dạ cỏ.

+ Phân huỷ protein chất lượng cao gây lãng phí.

+ Hydrrogen hoá một số axit béo không no quan trọng cần cho vật chủ.
+ Khí mêtan sinh ra gây hiệu ứng nhà kính, ảnh hưởng xấu đến môi trường.

1.2. Đặc điểm sinh sản

*. Sự thành thục về tính và tuổi sử dụng của bò

- Với bò đực, thành thục về tính là lúc trong dịch hoàn xuất hiện tinh trùng. .

- Với bò cái, là lúc trứng đã phát triển, chín và rụng, hình thành thể vàng.

Sự thành thục về tính đến sớm hay muộn phụ thuộc đặc điểm của giống, tính cá thể, điều kiện ngoại cảnh nhất là chế độ nuôi dưỡng chăm sóc của con người. Các điều kiện này đều thuận lợn thì bò đực 32 - 36 tuần tuổi, ống sinh tinh đã có tinh trùng. Đến 39 tuần tuổi, có "tính hăng" của đực giống, có thể xuất tinh lần đầu lúc 9 - 10 tháng tuổi. Bò cái lúc 10 - 12 tháng tuổi đã có trứng chín và rụng. Cho phối bò có thể có chửa.

Song, thành thục về tính thường đến sớm hơn thành thục về thế vóc. Vì vậy, bò đực chỉ cho phối giống, lấy tinh khi được 18 tháng tuổi. Bò cái tuổi phối giống lần đầu tốt nhất là 18 - 20 tháng tuổi khi cơ thể có khối lượng bằng 70% khối lượng cơ thể bò trưởng thành. Sau khi đẻ bò động dục trở lại. Từ chu kỳ 2 - 3 (trong vòng 3 tháng sau khi đẻ), cần theo dõi chặt chẽ để phối giống cho bò có chửa. Như vậy, bò sễ đẻ mỗi năm 1 bê.

Tuổi sử dụng bò đực, thường không quá 7 - 8 tuổi. Tuổi sung sức nhất là 3 - 5 tuổi. Tuổi sử dụng của bò cái cũng không nên quá 10 - 12 tuổi.

* Đặc điểm sinh sản của trâu:

 Với con trâu, nó vừa mang đặc điểm sinh sản chung của loài động vật có vú, lại vừa mang đặc điểm riêng của nó.Trâu thành thục muộn hơn bò. Bò 5 tuổi đã thay xong răng sữa, trâu 6 tuổi mới thay xong, là đại gia súc có sừng cấu tạo bộ máy sinh dục và hoạt động sinh dục của trâu và bò nhìn chung giống nhau, tuy vậy có điểm khác nhau

So với bò đực thì cơ quan sinh dục của trâu đực kém phát triển hơn. ở trâu, cơ quan sinh dục chiếm 0,22 - 0,25% trọng lượng cơ thể, tỉ lệ này ở bò là 0,25 - 0,35%. 

Tử cung trâu ngắn hơn, sừng tử cung uốn khúc nhiều và dày hơn so với tử cung bò. 

1.3. Đặc điểm sinh trưởng phát dục

Quy luật sinh trưởng: Sinh trưởng của vật nuôi được đạc trưng bởi tốc độ sinh trưởng, độ dài sinh trưởng và được đánh giá bằng khối lượng và kích thước các chiều đo cơ thể. Sinh trưởng là tính trạng số lượng chịu tác động của hai yếu tố di truyền và ngoại cảnh.Cũng như các gia súc khác, đặc điểm cơ bản của sinh trưởng trâu là quy luật phát triển theo giai đoạn. Sinh trưởng theo giai đoạn không chỉ là đặc trưng của cơ thể nói chung mà còn là của từng bộ phận, từng hệ thống. Tính giai đoạn còn thể hiện trong hoạt động của các tuyến nội tiết và do nhiều yếu tố tác động như trao đổi chất, dinh dưỡng, môi trường. . . Nhiều nghiên cứu đã cho thấy nghé non phát triển mạnh nhất ở thời kỳ mới sinh, sau đó tăng trọng giảm dần.Sinh trưởng của trâu, bò có thể chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn bào thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn sau bào thai (ngoài cơ thể mẹ). Giai đoạn ngoài bào thai

1. Quy luật sinh trưởng:

Sinh trưởng của vật nuôi được đạc trưng bởi tốc độ sinh trưởng, độ dài sinh trưởng và được đánh giá bằng khối lượng và kích thước các chiều đo cơ thể. Sinh trưởng là tính trạng số lượng chịu tác động của hai yếu tố di truyền và ngoại cảnh.
Cũng như các gia súc khác, đặc điểm cơ bản của sinh trưởng trâu là quy luật phát triển theo giai đoạn. Sinh trưởng theo giai đoạn không chỉ là đặc trưng của cơ thể nói chung mà còn là của từng bộ phận, từng hệ thống. Tính giai đoạn còn thể hiện trong hoạt động của các tuyến nội tiết và do nhiều yếu tố tác động như trao đổi chất, dinh dưỡng, môi trường. . . Nhiều nghiên cứu đã cho thấy nghé non phát triển mạnh nhất ở thời kỳ mới sinh, sau đó tăng trọng giảm dần.

Sinh trưởng của trâu có thể chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn bào thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn sau bào thai (ngoài cơ thể mẹ). Giai đoạn sau bào thai lại chia làm hai thời kỳ: thời kỳ bú sữa và thời kỳ sau cai sữa. Sự tăng trưởng ở giai đoạn bào thai chịu ảnh hưởng nhiều của mẹ, còn ở giai đoạn sau bào thai thì chịu ảnh hưởng của tính di truyền nhiều hơn trong mối tương tác với điều kiện ngoại cảnh, vì cơ thể và môi trường là một khối lượng nhất.

Nhìn chung sinh trưởng theo giai đoạn có liên quan mật thiết với sự phát triển của các bộ phận cơ thể: giai đoạn đầu, xương phát triển mạnh nhất, sau đó đến thịt và mỡ, giai đoạn tiếp theo, thịt phát triển mạnh sau đó đến xương và mỡ, còn giai đoạn sau thì mỡ phát triển mạnh nhất sau đó đến thịt và xương. Sinh trưởng ở giai đoạn sau bào thai của trâu có thể được chia ra bốn pha về mặt kích thước: năm thứ nhất chiều cao, năm thứ hai chiều dài và rộng, năm thứ 3 chiều rộng, năm thứ 4 chiều sâu và rộng.

Sinh trưởng của trâu chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền, mức độ dinh dưỡng, quản lý chăm sóc, tính biệt, thời tiết, mùa vụ v.v... Hiểu biết được đặc điếm, quy luật phát triển theo giai đoạn và các yếu tô ảnh hưởng đến sinh trưởng có ý nghĩa quan trọng đôi với ngươi chăn nuôi trong sản xuất để có biện pháp tác động tốt nhất vào các yếu tố trong từng giai đoạn phát triển của trâu, nhằm thu được năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất.

2. Tốc độ sinh trưởng

Tốc độ sinh trưởng của trâu, bò phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng, điều kiện chăm sóc và yếu tố giống. Trâu, bò  có khối lượng sơ sinh 20-25kg, lúc 1 năm tuổi đạt 120-140kg, lúc 2 năm tuổi đạt 200-220kg. Bắt đầu từ thời điểm này trâu được huấn luyện cho cày kéo hoặc vỗ béo lấy thịt là thích hợp. Nếu được nuôi dưỡng tốt, trâu, bò có thể cho tăng trọng cao hơn, đạt 500~700 g/ngày ở năm thứ nhất, 600-800 kg/ngày ở năm thứ hai, thời kỳ vỗ béo có thể tăng trọng 800-1000 g/ngày. Tiềm năng tăng trọng của trâu, bò để lấy thịt chưa được khai thác đúng mức vì còn quá ít các nghiên cứu về nuôi béo trên trâu.

3. Khối lượng và kích thước cơ thể

Về nông nghiệp, nước ta được chia thành nhiều vùng kinh tế sinh thái sản xuất nông nghiệp. Do điêu kiện sinh thái và tập quán chăn nuôi khác nhau mà số lượng trâu phân bố và tầm vóc trâu, bò giữa các vùng cũng khác nhau, thể hiện qua khối lượng và kích thước các chiều đo cơ thể trâu, bò  trưởng thành ở ba miền Băc, Trung, Nam.

1.4.      Đặc điểm về tiết sữa

Sự xuất hiện sữa trong tuyến sữa 

Sự phát triển của tuyến sữa diễn ra trong suốt thời kỳ mang thai. Song song với quá trình trên, một số thành phần của sữa như protein, xitrat cũng đã xuất hiện ở tế bào tuyến. Tuy nhiên sự tạo sữa trong thời gian có thai rất chậm chạp. Khoảng 3-4 ngày trước khi đẻ, sự phân tiết sữa trong tuyến bào diễn ra rất nhanh chóng, bầu vú căng to, khoang tuyến bào chứa đầy sữa đầu. Hoạt động chế tiết xuất hiện đột ngột ở tuyến bào gần thời điểm sinh đẻ được điều chỉnh bởi các hocmôn

Quan hệ của prolactin, progesteron và estrogen 

Prolactin do thuỳ trước tuyến yên tiết ra có chức năng chủ yếu là xúc tiến sự tiết sữa của tuyến sữa. Trong thời gian mang thai nồng độ prolactin trong máu tăng lên song song với progesteron nhưng nồng độ cao của progesteron trong suốt thời gian mang thai đã ức chế chức năng tạo sữa của prolactin. Trước khi đẻ 3-4 ngày, thể vàng tiêu biến làm cho progesteron giảm đột ngột, mặt khác estrogen do nhau thai tiết ra vẫn duy trì ở mức độ cao đã ức chế hypothalamus phân tiết yếu tố ức chế prolactin (PIF). Như vậy, prolactin một mặt được giải phóng khỏi sự ức chế của progesteron, mặt khác được thuỳ trước tuyến yên tiết mạnh hơn, do đó xúc tiến tạo sữa nhanh chóng ở tuyến sữa. 

Vai trò của hocmôn adrenal corticoid (ACH) 

Hócmôn ACH của vỏ tuyến thượng thận có ảnh hưởng khác nhau đến sự điều chỉnh các iôn trong máu. Tiêm androsteron vào cơ thể động vật bình thường thì sự thải Na+; Cl-; HCO3- giảm, còn sự thải K+ tăng. Cortizol làm tăng lượng glycogen và nồng độ đường huyết, đồng thời thúc đẩy sự phân giải protein, tăng mỡ huyết, axit béo và colesterin. Hai loại hocmôn prolactin và adrenal corticoid có tác động tương hỗ cần thiết cho sự khởi đầu phân tiết sữa.

Vai trò của hóc môn kích thích sinh trưởng (GSH) 

Nồng độ hocmôn sinh trưởng không thay đổi trong thời gian mang thai, nhưng tăng chút ít ở thời gian gần sinh đẻ. Chức năng chủ yếu của GSH là điều chỉnh quá trình trao đổi chất. Trong sự trao đổi lipit nó thúc đẩy quá trình oxy hoá mỡ, mỡ dự trữ dưới da giảm. GSH gây tác dụng tăng đường huyết. 

2. Chu kỳ tiết sữa của trâu bò 

Khác với các tuyến khác trong cơ thể chức năng tiết sữa của tuyến vú không liên tục mà mang tính giai đoạn. Sau khi đẻ tuyến sữa bắt đầu tiết và liên tục cho đến khi cạn sữa. Giai đoạn tiết sữa như vậy gọi là chu kỳ tiết sữa. Tiếp sau đó, tuyến sữa ngừng hoạt động trong một thời gian ngắn để chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo. Thời gian ngừng tiết sữa cho đến lứa đẻ sau là giai đoạn cạn sữa. Những trâu bò cái được nuôi dưỡng tốt trong giai đoạn vắt sữa thì chu kỳ tiết sữa kéo dài đến 300 ngày hoặc hơn và giai đoạn cạn sữa là 45-60 ngày. 

Trong mỗi một chu kỳ cho sữa, lượng sữa thu được trong một ngày đêm có khác nhau. Sự biến đổi năng suất sữa hàng ngày trong chu kỳ tiết sữa phụ thuộc vào cá thể cũng như điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng. Nhìn chung, sau khi đẻ lượng sữa trong một ngày đêm tăng lên và đạt cao nhất ở tháng thứ 2 hoặc thứ 3, sau đó dần dần giảm xuống (hình 8.4). đối với bò có sức sản xuất cao, hệ số hụt sữa khoảng 5-6%/tháng, còn ở trâu bò có sức sản xuất trung bình là 9-12%/tháng. Khi có thai lượng sữa giảm nhanh, đặc biệt từ tháng có thai thứ 5 trở đi.

 

Có thể chia ra 4 loại trâu bò sữa dựa vào đặc điểm của đồ thị chu kỳ cho sữa:

  • Mạnh và vững: Khả năng hoạt động củ chu kỳ tiết sữa vững, loại này có nhiều sữa,
  • đồng hoá thức ăn tốt. 
  • Mạnh nhưng không vững: Sữa giảm thấp sau khi đạt đỉnh cao và một lần nữa lại tăng lên ở cuối kỳ phân tiết, biểu hiện thể trạng yếu. 
  • Cao nhưng không vững: Lượng sữa cao ngay sau khi đẻ, sau đó lượng sữa giảm đi nhanh chóng. Trâu bò thuộc loại này tim thường yếu, hệ thống tim mạch không đáp ứng với sức tiết sữa cao và lâu dài. 
  • Tiết sữa thấp: Loại này lượng sữa đạt thấp, bầu vú kém phát triển, con vật béo phì. 

3. Áp suất của bầu vú và tốc độ hình thành sữa 

Sự tổng hợp sữa ở tuyến sữa là một quá trình liên tục cho đến khi áp suất trong tuyến sữa cao đến mức đủ ức chế hoàn toàn sự tạo sữa. Nhiều nghiên cứu cho biết, sau khi vắt sữa, áp suất của tuyến sữa khoảng 8mmHg. Ngay trước khi vắt sữa áp suất trong tuyến sữa khoảng. 25 mm Hg. Trong toàn bộ thời gian vắt sữa áp suất trong bể sữa giữ ở mức tương đối cao (35-40 mmHg) và tăng giảm có qui luật (trong phạm vi 6-12 mmHg). Sự tăng giảm này đảm bảo cho sữa ở bao tuyến không ngừng chảy vào ống dẫn sữa, xuống bể sữa. Nếu sữa chứa đầy trong xoang tuyến, không được vắt theo định kỳ, áp lực tuyến sữa tăng cao tới mức 35 mmHg, thậm chí đến 50 mmHg. Sự gia tăng của áp suất nội tuyến sữa có tác động ngược lại với sự tạo sữa. ở trâu bò cái có năng suất sữa trung bình hoặc thấp, trong giai đoạn 12 giờ hoặc 16 giờ đầu sau khi vắt sữa sự tăng áp suất tuyến sữa chưa có ảnh hưởng rõ đến tốc độ tổng hợp sữa của tuyến. Sau đó cùng với áp suất tuyến sữa tăng dần, tốc độ tổng hợp sữa cũng giảm dần. Sự tạo sữa sẽ ngừng hẳn nếu sau 35 giờ sữa không được loại khỏi xoang tuyến. điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc định ra qui trình vắt sữa và cạn sữa cho trâu bò. 

4. Sữa sót 

Lượng sữa còn lại trong tuyến sữa sau khi vắt sữa bình thường được gọi là sữa sót. Thành phần của sữa sót gần tương tự như sữa thường, nhưng tỷ lệ mỡ sữa có cao hơn. Sữa sót không thể vắt được trong điều kiện bình thường, nhưng chúng ta có thể thu được bằng việc tiêm cho con vật một lượng oxytoxin nhất định sau khi vắt sữa. Lượng sữa sót ở bò bằng khoảng 15-20% dung lượng tuyến sữa. ở trâu và ở dê tỷ lệ sữa sót thường thấp hơn nhiều. Lượng sữa sót thường tăng lên theo tuổi trâu bò, có thể do tính đàn hồi của hệ cơ tuyến sữa kém dần. Lượng sữa sót của giai đoạn sau của chu kỳ sữa thường cao hơn ở giai đoạn đầu. Tuy nhiên sự sai lệch thường không rõ rệt. Tỷ lệ phần trăm sữa sót thay đổi phụ thuộc vào năng suất sữa. Tỷ lệ này thường cao hơn ở trâu bò cao sản so với trâu bò thấp sản. Những trâu bò sữa năng suất không ổn định cũng có nhiều sữa sót hơn trâu bò có sữa năng suất ổn định. 

5. Phản xạ tiết sữa 

Sữa được bài xuất ra ngoài khi bê nghé bú hay vắt sữa theo cơ chế phản xạ (hình 8.5). Phản xạ tiết sữa được tiến hành theo 2 pha: pha thần kinh và pha thần kinh-thể dịch.

Sơ đồ cung phản xạ tiết sữa (Reeves, 1987)

Sơ đồ cung phản xạ tiết sữa (Reeves, 1987)                  

a. Pha thần kinh 

Cung phản xạ trong pha thứ nhất bắt đầu từ thụ quan của vú theo thần kinh truyền vào đến rễ lưng và rễ bên tuỷ sống, lên đến hành não, theo đường truyền vào đến vùng nhân trên thị của vùng dưới đồi và tiếp tục lên trên vỏ đại não. Sợi truyền ra bắt đầu từ nhân trên thị, sợi này trong thành phần của bó trên thị tuyến yên đến thuỳ thần kinh của tuyến yên. đáp ứng của thuỳ này đối với sự kích thích bú hoặc vắt sữa là thải oxytoxin vào máu. Mặt khác, từ tuỷ sống thần kinh vùng hông truyền xung động theo đường truyền ra, thuộc thần kinh giao cảm tuyến vú. Thần kinh truyền ra có ảnh hưởng trực tiếp đối với cơ trơn ống dẫn, bể sữa và ống đầu vú. Pha thứ nhất có thời kỳ tiềm phục ngắn (1-4 giây). 

b. Pha thần kinh- thể dịch 

Pha này có liên quan đến hoạt động của hóc-môn oxytoxin. Oxytoxin được hình thành ở hypothalamus và được tích trữ ở thuỳ sau tuyến yên. Oxytoxin được phóng thích ra chỉ khi được kích thích vào thời gian vắt sữa. Những tín hiệu lặp lại có tính chu kỳ như tiếng động của máy vắt sữa, tác động xoa bóp bầu vúÿ sẽ được truyền vào hypothalamus. Sự hưng phấn này được lan toả xuống tuyến yên, gây phân tiết oxytoxin. Oxytoxin có tác dụng làm co bóp cơ biểu mô của tuyến bào đẩy sữa vào bể chứa. Thời kỳ tiềm phục của pha thứ hai là 30-40 giây. Nhưng oxytoxin phóng thích từ thuỳ sau tuyến yên thường hoạt động kéo dài trong vòng 4-5 phút, sau đó hết hiệu lực.

Phản xạ thần kinh-hocmôn trong sự bài tiết sữa là phản xạ có điều kiện. Bởi vậy các tác nhân lạ có thể ức chế hoạt động của chúng, gây trở ngại cho sự bài sữa, làm giảm đáng kể năng suất sữa. Trong quá trình vắt sữa, tác nhân lạ xuất hiện như tiếng động cơ, người lạ xuất hiệnÿ làm cho con vật sợ hãi, sự phóng thích oxytoxin bị ức chế, tăng giải phóng adrenalin, gây co bóp thành cơ trơn ống dẫn, tác động đến cơ biểu mô bào tuyến, nên sự cung cấp máu cho tuyến sữa bị hạn chế. Adrenalin còn làm cho sự mẫn cảm của biểu mô tuyến bào đối với oxytoxin giảm thấp.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài 2:   GIỐNG VÀ CÔNG TÁC GIỐNG TRÂU, BÒ, DÊ                                   

2.1. Giới thiệu các giống trâu bò

2.1.1. Các giống trâu nội, ngoại

Trâu Murrah

Nguồn gốc Ấn Độ, da và lông thưa màu đen tuyền, nhẵn bóng, phân bố chủ yếu ở Bình Dương và Thái Nguyên. trau-murrahTrâu đực trưởng thành nặng: 650- 730kg/con,cao vai trung bình 142 cm.

Trâu cái:350-400kg/con, cao vai trung bình 133 cm, nghé sơ sinh: 30kg/con.

Trâu Murrah có khả năng cho sữa tương đối cao, sản lượng sữa trung bình 2.600 - 2.800 kg trong chu kỳ vắt 270-300 ngày, tỷ lệ mỡ sữa trung bình 7%.

Trâu Murrah có dấu hiệu động dục đầu tiên trung bình lúc 30 tháng .

Trâu Surti:

Kết quả hình ảnh cho trâu surtiNguồn gốc Ấn Độ, là loại cho sữa, có màu đen và nâu hình dáng đẹp, tầm vóc trung bình, lưng thẳng, chân khá thấp. Bầu vú có dáng cân đối, da bầu vú mầu hồng, các núm vú đều đặn . Con đực trưởng thành nặng 640-700 kg, con cái 550 - 650 kg. Chiều cao trung bình ở con đực là 134 cm, con cái là 124 cm. Năng suất sữa trung bình là 2070 kg / chu kỳ, với 7,9% chất béo.

Trâu Mehsana : nguồn gốc Ấn Độ, là loại cho sữa và thịt, có màu đen hoặc xám có đốm trắng ở mặt và tai. Mehsana có thể cho 7-8 lít/ngày thậm chí là tới 15 lít . Trâu đực có thể nặng 530-600 kg , cái 425-475 kg . * Ngoài ra trên thế giới còn một số giống sau : Nili-Ravi, Kundi, Manda, Jerangi, Kalahandi và Sambalpur ... hầu hết đều thuộc Ấn Độ, bên cạnh đó còn có các giống trâu rừng thuộc châu á : Anoa, Arni, Tamarao, hay trâu rừng châu phi như Syncerus caffer, Syncerus caffer namus, ... Trâu pandharpuri Nguồn gốc Ấn Độ,đầu dài, có màu lông đen tuyền thỉnh thoảng có màu xám trắng, sừng dạng kiếm, dài 45-50 cm có thể lên tới 1,5m, kích cở trung bình 450-470 kg, có thể cho 6-7 lít sữa /ngày, nhưng nếu nuôi dưởng tốt có thể đạt 15 lít.

Trâu Việt nam


- Nguồn gốc, xuất xứ Trâu nội (Trâu Việt Nam hay trâu địa phương) thuộc nhóm  trâu Châu Á hay còn gọi là trâu  đầm lầy (Swamp buffalo). Trâu thích

nghi với điều kiện nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, chịu đựng kham khổ, dễ nuôi. Có thể nói trâu là con vật có khả năng lợi dụng thức ăn thô tốt hơn bất cứ loại gia súc nhai lại hiện có ở nước ta. Hiện đang được nuôi giữ tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi.

- Đặc điểm ngoại hình:

Đầu thô, trán phẳng, mặt gân hơn bò, ngắn, mõm rộng, tai to và rộng. Sừng dài, thon, cong hình bán nguyệt, sừng có 3 mặt, gốc sừng hình tam giác hoặc hình thang. Cổ dài thẳng, không có yếm nhưng có khoang cổ. Thân trâu ngắn, chân thấp và mảnh, vai gầy, ngực nép, bụng to, mông thấp, đuôi ngắn chấm khoeo. Nhìn ngang trâu có mình ngắn, thấp, lưng võng; nhìn dọc thấy bụng to, ngực nở


Con cái vú bé và lùi về phía sau, con đực dương vật thường dính chặt vào phía bụng, trừ đoạn đầu dương vật ngắn và tự do, bìu dái ngắn.

- Khả năng sinh sản:

+ Trâu đực có khả năng giao phối lúc 3 năm tuổi, thời gian sử dụng trâu đực giống tốt nhất là 4 – 5 năm.

+ Trâu cái có tuổi động dục lần đầu khoảng 3 năm tuổi. Tuổi đẻ lứa đầu khoảng 4 năm tuổi. Chu kỳ động dục của trâu 21 – 23 ngày. Thời gian mang thai 320 –325 ngày. Thời gian động dục lại sau đẻ khoảng 6 tháng, nhịp đẻ thường 3 năm 2 nghé hoặc 2 năm 1 nghé. Mùa sinh sản của trâu: từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau.

- Khả năng cày kéo: Lực kéo trung bình của trâu cái là 68,5 – 70 kg, trâu đực thiến là 70 – 78 kg.

- Khả năng cho thịt: Tỷ lệ thịt xẻ đạt từ 42 - 45%, tỷ lệ thịt lọc đạt 28 – 36%.

 

 

 

 

 

                              


2.1.2 Các giống bò nội, ngoại

(1). Ging bò Droughtmaster

bo1 (8)Bo` Droughtmaster (DRM), có nghĩa là bậc thầy về chịu hạn. Bò được lai tạo ở ÚC, có 50% máu bò giống ShortHorn (Anh) và 50% máu giống Brahman. Bò thích hợp với điều kiện nóng bức và tận dụng đồng cỏ nghèo nàn rất tốt.

- Là giống lớn con trung bình, thân dài, tròn, lông ngắn, thưa, mượt, da mỏng, đàn hồi tốt

Màu lông từ màu vàng nhạt đến đỏ sậm.

- Phần lớn bò đều không sừng, u lưng nhỏ, chân và móng chắc, khỏe.

- Không bị trúng nắng, mò mắt, ung thư mắt, kháng ve, kí sinh trùng.

- Dễ đẻ, lành tính, nuôi con tốt.

(2). Bò Angus

Toàn thân bò có màu đen và thường chỉ có một màu đồng nhất, niêm mạc mũi cũng có màu đen. Ít có bò Angus màu đỏ. Bò thường không có sừng vì trong thông tin di truyền của giống bò này thì gene không sừng là gene trội. Con lai F1 giữa bò Angus với giống bò khác luôn luôn không có sừng. Bò có chất lượng thịt tốt, có vân mỡ xen kẽ trong thớ thịt giúp thịt mềm và béo.

Bò thành thục sớn, hiệu quả sinh sản cao. Khuyết điểm của giống này là khối lượng không lớn và tăng trọng chậm. Bò cái trưởng thành năng 550–650 kg, bò đực 800–950 kg. Nuôi thịt lúc 15 tháng tuổi  đực đạt 450– 460 kg, bê cái 350–450 kg. Tỷ lệ thịt xẻ bình quân 65 -67%. Bò thích hợp với vùng khí hậu ôn đới và nuôi chăn thả.

(3). Bò Charolais

Bò Charolais có kết cấu cơ thể cân đối, cơ bắp nổi rõ, lớn nhanh và hiệu quả sản xuất thịt bò cao. Chúng có hoặc không có sừng. Màu chủ yếu là trắng kem. Tuy nhiên cũng có con màu vàng tối. Vì giống bò này là lớn nhanh, to con, cơ bắp nổi rõ vì vậy khối lượng thịt xẻ cao.

Con đực nặng 1200-1.300kg con cái 700–800 kg, tỷ lệ thịt xẻ đạt trên 65%. Bò đực giống Charolais đạt khối lượng 800–900 kg ở 500 ngày tuổi. Bò có tính trầm, hiền lành và chịu kham khổ. Nhược điểm của bò Charolais là chất lượng thịt chưa cao như bò Angus. Bê sơ sanh có khối lượng lớn nên nhiều ca sanh khó, tỷ lệ nuôi sống của bê chưa cao.

(4). Bò BBB

Kết quả hình ảnh cho Giống Bò BBB

Bò có 3 màu lông chủ yếu là trắng, trắng loang xanh (xám).

Riêng bò lai với Brahman hoặc Droughtmaster thường có màu lông xám nhạt (xanh), loang trắng đen.

-Chúng có thân hình đẹp, chắc nịch, thân mình trông giống như heo, cầu trúc xương vững chắc, hài hòa với xương sườn tròn, bộ cơ phát triển nhất là cơ mông và đùi sau.

Bò đực 3B trưởng thành có khối lượng 1.100 - 1.250 Kg. Bò cái trưởng thành có khối lượng 750 - 800 Kg.Bò có khả năng sản xuất thịt tốt, mức tăng trọng trung bình đạt 1300g / ngày. Tỷ lệ thịt xẻ đạt 70%. Phẩm chất thịt thơm ngon.

 sơ sinh có khối lượng 45,5 kg. Bê 6-12 tháng tăng trọng bình quân 1.300 gram/ngày. Khi 1 năm tuổi, bê đực nặng 470–490 kg; bê cái 370–380 kg. Trưởng thành bò đực nặng 1.100-1.200 kg, bò cái 710–720 kg. Ở tuổi giết thịt, bê đực 14-16 tháng có tỷ lệ thịt xẻ 66%.

 F1 BBB sinh ra khỏe mạnh, thích nghi với điều kiện, môi trường sống. Kết hợp được cả tốc độ phát triển, tăng trọng nhanh, chất lượng thịt tốt của con bố (bò siêu thịt BBB) và sự thích nghi với môi trường sống của con bò mẹ (bò lai Sind tại Việt Nam). Bê tăng trọng bình quân 25 kg/tháng, cá biệt có con tăng trọng 30 kg/tháng. Dễ nuôi, phàm ăn, lớn nhanh.

Giống Limousin

Bò thích hợp với vùng khí hậu ôn đới. Theo một thống kê, vào năm 2004, ở Pháp có khoảng 900 ngàn bò cái sinh sản giống Limousin (ước tổng đàn trên 2 triệu con). Tinh bò Limousin được xuất đi nhiều nước trên thế giới để lai giống. Bò cái Limousin Bê lai giữa tinh bò Limousin với bò cái lai Sind có trọng lượng sơ sinh khoảng 20 kg, nuôi chăn thả như bò lai Sind trọng lượng lúc 12 tháng tuổi đạt 126 –139 kg và 24 tháng tuổi đạt 211– 265 kg

Giống bò này có sắc lông màu đỏ và không có đốm. Niêm mạc mũi cũng màu đỏ hoặc màu hồng nhạt (tùy cá thể). Sừng và móng chân màu trắng, trắng xám, tầm vóc của bò lớn, thân hình dài, lưng thẳng, đầu ngắn, trán rộng. Khối lượng bò cái bình quân 540– 600 kg, bò đực bình quân 800– 900 kg. Nuôi thịt lúc 12 tháng tuổi bê đực đạt 450– 460 kg, bê cái 380 –400 kg. Tỷ lệ thịt xẻ bình quân 70%.

2.1.2. Các giống bò cho sữa

(1). Giống Hà Lan (HF)

Bò sữa hà lan HFBò Hà Lan chủ yếu có màu lang trắng đen, nhưng vẫn có con lang trắng đỏ. Bò cái có thân hình chắc chắn gần như hình thang, tầm vóc lớn,  to, bầu vú phát triển, mắn sinh, hiền lành, và có khả năng sản xuất sữa rất cao. Bò sữa thuần Hà Lan có tiềm năng cho sữa cao hơn các giống bò sữa khác. Bò Hà Lan cho trung bình 50 lít, mỗi ngày, chu kỳ 300 ngày cho 10.000 – 15.000 lít, khi nhập vào những nước nhiệt đới như Việt Nam, cho mỗi ngày trung bình 15 lít, chu kỳ 300 ngày cho 3.600 – 4.000 lít sữa tươi .

Bò đực có thân hình chữ nhật, sừng nhỏ, yếm bé. Bò Hà Lan Mỹ có tầm vóc to con nhất. Khối lượng bò đực: 600 kg/con và bò cái: 550 kg/con. Bò có thể bắt đầu phối giống lúc 15-18 tháng tuổi. Năng suất sữa 305 ngày của bò Hà Lan Mỹ là 12.000 kg sữa với 3,66 % mỡ, bò Cuba là 3.800-4.200 kg với 3,4 % mỡ và bò Úc là 5.000 kg sữa. Đây là giống bò thích nghi rất tốt ở nhiều vùng khí hậu khác nhau trên thế giới. Mặc dù có nguồn gốc ôn đới nhưng đã được nuôi lai tạo thành những dòng có thể nuôi được ở các nước nhiệt đới.

(2). Bò Jersey 

Kết quả hình ảnh cho Giống BO Jersey

Bò Jersey là một giống bò sữa có kích thước nhỏ, được nuôi ở đảo thuộc vùng Jersey, giống bò này cho sản lượng mỡ sữa rất tốt. Bò chuyên nuôi lấy sữa, sống lâu, sinh sản đều đặn, hội nhập môi trường cao (thời tiết, vùng đất, nhiệt độ). Bò sanh nở dễ dàng, không cần sự giúp đỡ bên ngoài. Sau 24-26 tháng tuổi bò bắt đầu đẻ con, bò cho nhiều sữa có nhiều chất béo và nhiều protein.

Bò cân nặng trung bình khoảng 400 kg với chiều cao hơn 125 cm. Sữa của bò có lượng protein cao so với sữa của các giống bò khác. Tính tỷ lê cơ thể và sữa thì giống bò jersey cho sữa, chất béo, protein cao nhất. Sữa bò jersey dùng chế phô mai rất tốt.. Sữa bò có chứa khoảng 6 % chất béo và 4,2 % protein. Lượng sữa hàng năm vào khoảng 4.680 kg.

. Các giống bò kiêm dụng

(1).Bò Brahman

Là giống bò thịt nhiệt đới, được nuôi rộng rãi ở tất cả các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Bò Brahman có màu lông trắng xám hoặc trắng ghi. Bò có ngoại hình thể chất chắc chắn, khoẻ mạnh, hệ cơ phát triển, u vai phát triển, tai to và cụp xuống.

Khối lượng trưởng thành: Bò cái 380kg, bò đực 600-650kg, năng suất sữa thấp:600-700kg/chu kỳ. Khối lượng bê sơ sinh 23-24kg. Tỷ thịt lệ xẻ 52,5%.
     Ngoài Bradman màu trắng, người ta cũng đã chọn lọc được các dòng Bradman màu đỏ.

(2) Red Sindhi

Nguồn gốc từ tỉnh Sind (Pakistan) là giống bò kiêm dụng thịt sữa-màu đặc trưng của chúng là màu đỏ cánh gián nhưng cũng có thể có một số cá thể có những mảng đen ở dọc lưng, hai bên cổ hoặc có thể có một vài đốm trắng nhỏ cũng có thể được chấp nhận.

Khối lượng trưởng thành: Bò cái 320-350kg-bò đực 370-420kg, năng suất sữa ở bò cái bình quân 1.500-1.600kg trong một chu kỳ vắt sữa 240-270 ngày. Tỷ lệ mỡ sữa 5,2%. Khối lượng bê sơ sinh 20-21kg, tỷ lệ thịt xẻ 50%.

(3).BÒ LAI SIND

•         Bò lai Sind có tầm vóc trung bình so với các giống bò ở Việt Nam, đa số khỏe mạnh, màu lông vàng hoặc đỏ sẫm.

•         Bò lai Sind có đầu hẹp, trán gồ, tai to cụp xuống,yếm và rốn rất phát triển, u vai nổi rõ, lưng ngắn,ngực sâu, mông dốc, bầu vú khá phát triển, đa số đuôi dài và đoạn chót không có xương.

•         Bò Lai Sind có lông màu cánh gián, con đực trưởng thành nặng 450–500 kg, con cái nặng 320–350 kg. Khối lượng sơ sinh 20–21 kg

Bò Lai Sind thích nghi với khí hậu nóng ẩm, chịu đựng kham khổ, ít bệnh tật.

(4) Bò vàng Việt Nam

 

Theo Georgc. B và Lê Quang Thông, 1973, bò địa phương (bò vàng) nước ta có nguồn gốc từ bò ấn Độ - Bos Indicus và bò vàng Trung Quốc không có u.
Bò đa số có sắc lông màu vàng ở vùng bụng, yếm, bên trong đùi màu vàng nhạt, da mỏng, lông mịn, tầm vóc nhỏ bé, trọng lượng 160 - 200 kg, bò đực 250 - 300 kg. Kết cấu thân hình cân đối, thường con cái trước thấp hậu cao, con đực tiền cao hậu thấp. Đầu con cái thanh, con đực thô, sừng nhỏ, ngắn, trán phẳng hoặc hơi lõm, con đực mõm ngắn, con cái tương đối dài, mạch máu nổi rõ, mắt to nhanh nhẹn. Cổ bò cái thanh, cổ bò đực to, dày.Yếm kéo dài từ hầu đến vú, cổ có nhiều nếp nhăn nhỏ

2.2 Công tác giống trâu bò

2.2.1 Chọn giống trâu bò sinh sản

Chọn những trâu bò dáng nhanh nhẹn, da mỏng, lông thưa, thuần tính, hiền lành, có sự hài hoà giữa các phần đầu và cổ, thân và vai.

- Đầu thanh nhẹ, mõm rộng, mũi to, hàm răng đều đặn, trắng bóng; cổ dài vừa phải và thanh, da cổ có nhiều nếp nhăn.

- Ngực sâu, rộng: Xương sườn mở rộng, cong về phía sau, bụng to nhưng không sệ, bốn chân thẳng và mảnh, móng khít, mông nở, lưng ít dốc.

- Bầu vú phát triển về phía sau, 4 núm vú đều, dài vừa phải, không có vú kẹ, da vú mỏng, đàn hồi, tĩnh mạch vú nổi rõ, phân nhánh ngoằn nghoèo.

+. Khả năng sinh sản

Bò có khả năng đẻ sớm và khoảng cách giữa 2 lứa đẻ ngắn.

Bò động dục lần đầu khoảng 18-21 tháng tuổi, từ 27-30 tháng tuổi có thể đẻ lứa đầu.

- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ ngắn: Từ 12-14 tháng đẻ 1 con bê.

2.2.2 Chọn giống trâu bò nuôi lấy sữa

Khi chọn bò sữa, cần kiểm tra năng suất sữa thực tế. Cũng phải xem xét nó đang tiết sữa kỳ thứ mấy, tháng thứ mấy của chu kỳ (thông qua sổ sách-nếu có, hỏi người chủ, quan sát và xem răng để định tuổi...). Giả sử là bò F2, đang tiết sữa tháng thứ hai của chu kỳ 3 mà mỗi ngày chỉ vắt được 10 lít sữa thì phải dè chừng!

Việc không thể xem nhẹ là kiểm tra hình dạng và cấu trúc bầu vú, cũng như hệ thống mạch máu tuyến vú. Xin nhớ là chỉ có bầu vú phát triển, mềm mại, các tĩnh mạch nổi rõ, cuộn lên như sợi dây thừng thì mới cho nhiều sữa (vì máu vận chuyển các chất đến bầu vú để tạo sữa và để tạo ra 01 lít sữa cần 540 lít máu chảy qua bầu vú).

Ngoài ra, cũng nên nhớ rằng, chỉ khi nào bò đẻ mới cho ra hai sản phẩm quan trọng nhất là bê và sữa. Vì vậy, khi chọn bò cần chú ý kiểm tra cơ quan sinh dục, đối với loại bò trưởng thành đã đẻ cũng như đối với bò cái tơ chưa đẻ lứa nào. Việc kiểm tra này cần trông cậy vào các bác sỹ thú y chuyên khoa bằng quan sát cơ quan sinh dục bên ngoài và sờ khám qua trực tràng để xem cơ quan sinh dục của con bò ấy có phát triển bình thường không? tử cung, buồng trứng... có bị viêm nhiễm, teo nhỏ không?... Tức là phải biết được con bò ấy có đẻ được không và sinh đẻ có tốt không?

2.2.3 Chọn giống trâu bò nuôi lấy thịt

Chọn những con có thể chất khoẻ mạnh và có những đặc điểm sau:

+ Ngoại hình cân đối, lông óng mượt, da mềm.

+ Đầu cổ linh hoạt. Mặt ngắn, trán rộng, mắt sáng, mõm bẹ, bộ răng còn tốt.

+ Lưng dài, thẳng. Ngực sâu, rộng. Bụng tròn, gọn.

+ Mông nở. Đuôi dài, gốc đuôi to.

+ Chân thẳng, bước đi vững chải, chắc chắn. Móng khít.

+ Yếm rộng, bao da rốn phát triển

2.2.5 Công tác phối giống cho trâu, bò

Chu kỳ động dục của bò là 21 ngày, thời gian động dục kéo dài từ 12 - 36 giờ. Cho phối giống thích hợp nhất là sau lúc bò động dục 12 - 24 giờ sẽ cho tỷ lệ thụ thai cao nhất. Biểu hiện động dục của bò là: Lúc đầu bò ít gặm cỏ hoặc bỏ ăn, hay nhảy lên con khác, phần âm hộ hơi sưng, âm đạo màu hồng nhạt, dịch nhờn chảy ra trong suốt, lỏng và ít, sau đó, âm hộ con vật sưng to làm mất hết nếp nhăn, niêm mạc âm đạo và tử cung đỏ hồng, miệng và cổ tử cung hé mở, dịch nhờn chảy ra nhiều hơn, có thể kéo dài thành sợi. Khi đó, con vật hưng phấn cao độ, cho phối giống lúc này sẽ đạt tỷ lệ thụ thai cao, nếu chưa thụ thai thì sau 21 ngày bò sẽ động dục trở lại.

- Chu kỳ động dục của trâu là 25 ngày, thời gian động dục kéo dài 2 - 4 ngày, biểu hiện động dục ở trâu không rõ như bò nên khó phát hiện. Vì vậy, nên chăn thả chung trâu đực với đàn trâu cái sinh sản để phát hiện trâu động dục, phối giống kịp thời và hiệu quả cao.

* Chú ý: Để tránh cho trâu, bò giao phối đồng huyết (tức là giao phối giữa con đực và con cái có cùng chung huyết thống) ở miền núi nên trao đổi trâu bò đực giống giữa các thôn bản với nhau./.

 

 

 

 

Bài 3:   CHUỒNG TRẠI TRONG CHĂN NUÔI TRÂU BÒ

3.1 Những điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng đến trâu bò

3.1.1. Nhiệt  độ

Điều kiện khí hậu của nước ta, stress nhiệt rất dễ xảy ra trên bò sữa làm năng suất sinh sản và sữa giảm. Người nuôi cần quan tâm đúng mức để có những giải pháp thích hợp, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.

Ảnh hưởng

Sức sản xuất sữa của bò chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của điều kiện khí hậu, đặc biệt là nhiệt độ không khí. Nhìn chung, khi nhiệt độ thấp hơn 5 độC hoặc cao hơn 21 độC, sản lượng sữa giảm từ từ; nhiệt độ cao hơn 27 độC, sản lượng sữa giảm rõ rệt. Khi nhiệt độ của môi trường tăng cao, bò có khuynh hướng giảm hoạt động để hạn chế quá trình sản sinh nhiệt, giảm ăn, uống nhiều nước.

Bò là loài động vật máu nóng, có thân nhiệt ổn định. Khi nhiệt độ môi trường tăng, quá trình thải nhiệt sẽ gia tăng để duy trì nhiệt độ bình thường của cơ thể. Bò đang cho sữa cần thải lượng nhiệt nhiều hơn đáng kể so với một con bò không cho sữa. Theo một số nghiên cứu, bò cho lượng sữa trung bình 31,6 kg/ngày, lượng nhiệt thải cao hơn 48% so với bò không tạo sữa, bò cho 18,5 kg sữa/ngày lượng nhiệt thải cao hơn 27% so với bò không cho sữa. Nếu trong điều kiện nhiệt độ cao, việc thải nhiệt gặp khó khăn, bò dễ bị stress nóng, bò thở và đổ mồ hôi nhiều. Tại Ai Cập, bê hậu bị được nuôi thử nghiệm trong điều kiện nhiệt độ 36 độC có phun nước 7 lần/ngày và một nhóm đối chứng không phun nước. Kết quả, bê được nuôi ở nhóm thí nghiệm tăng trọng cao hơn so với nhóm đối chứng 26,1%.

Nhiệt độ môi trường cao có những tác động xấu đến sinh sản của bò như chu kỳ động dục và thời gian động dục bất thường, rối loạn hormon sinh sản, buồng trứng phát triển bất thường, phôi thai có tỷ lệ chết tăng, kéo dài thời gian mang thai. Nếu không được thoát nhiệt tốt, nhiệt độ cơ thể tăng cao ảnh hưởng đến khả năng sinh sống của phôi thai, khi nhiệt độ có thể tăng 1,1 - 1,7 độC thì các phôi định vị trong tử cung sẽ chết hoàn toàn.

3.1.2. Độ ẩm

Ẩm độ môi trường càng cao thì càng cản trở bốc hơi nước từ bò nên quá trình thải nhiệt sẽ càng khó khăn. Mặt khác, nhiệt độ của môi trường cao lại cản trở thải nhiệt từ cơ thể qua con đường dẫn nhiệt. Chính vì thế, trong môi trường càng nóng ẩm thì sự thải nhiệt thừa càng bị trở ngại. Bức xạ nhiệt của môi trường cao và lưu thông gió kém (những ngày oi bức) thì quá trình thải nhiệt của bò thông qua bức xạ và đối lưu càng bị trở ngại. Ngoài ra, khả năng thải nhiệt của bò sữa gốc ôn đới còn bị hạn chế do tỷ diện bề mặt da (diện tích da/thể trọng) thấp (do thể trọng lớn và thường không có yếm, ít nếp nhăn). Do vậy, trong môi trường nóng ẩm con vật buộc phải hạn chế lượng thu nhận thức ăn (chính là nguyên liệu tạo sữa) để giảm sinh nhiệt và kết cục là năng suất sữa giảm sút rõ rệt cho dù con vật có tiềm năng (di truyền) cho sữa cao.

Khi nhiệt sinh ra trong cơ thể lớn hơn khả năng thải nhiệt thải vào môi trường thì thân nhiệt tăng và bò xuất hiện stress nhiệt. Bò bị stress nhiệt thì thu nhận thức ăn và năng suất sữa giảm tùy theo mức độ nghiêm trọng. Sự giảm sữa có thể khác nhau nhưng ước chừng nhiệt độ ở trực tràng tăng lên 1OC so với bình thường thì con vật giảm 1 lít sữa. Trong điều kiện bị stress nhiệt hàm lượng mỡ và protein sữa giảm, tế bào soma trong sữa tăng, đỉnh sữa của chu kỳ thấp thấp, hệ số sụt sữa cao. Mặt khác, hoạt động sinh sản cũng bị ảnh hưởng xấu. Bò chậm hoặc không động dục lại sau khi đẻ, biểu hiện động dục không rõ ràng, có khi có động dục mà mà không rụng trứng. Tỷ lệ phối giống đậu thai thấp, phôi có sức sống yếu, tỷ lệ phôi chết cao, nhất là những ngày đầu sau phối giống. Thai sống sót cũng phát triển kém, khối lượng bê sinh ra nhỏ (Johnson, 1992, Đinh Văn Cải, 2003).

3.1.3. Độ thông thoáng.

- Thông gió tạo ra thông khí, đó là sự thổi không khí cũ đi, đưa không khí mới vào chuồng nuôi. Thông gió tại bất kỳ thời điểm nào trong chăn nuôi đều có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, năng suất của vật nuôi.

Ý nghĩa

Thông gió là một yếu tố kỹ thuật có ý nghĩa rất quan trọng nhưng lại thường bị coi nhẹ, gây hậu quả rất lớn. Mọi con vật muốn sống đều phải liên tục hô hấp (hít vào và thở ra). Khí hít vào là khí sạch, khí thở ra là khí “bẩn”. Phản ứng hô hấp là quan trọng nhất trong tất cả các hoạt động bản năng: ăn, uống, thở, tự vệ... Nếu ngừng hô hấp sau 3 phút, con vật đã có thể chết, trong khi nó có thể nhịn khát 1 ngày, nhìn đói nhiều tuần. Để hô hấp tốt, con vật cần được cung cấp khí sạch (có đủ 21% ôxy).

Khi hít vào, không khí sạch có 79,01% Nitơ;  21% ôxy, 0,03% CO2; khi thở ra, lượng Nitơ không thay đổi đáng kể, nhưng nồng độ ôxy giảm đi khoảng 5%, chỉ còn 15,4%; nồng độ CO2 tăng lên đến 4,1%. Quá trình biến đổi đó là do phản ứng sau đây:

C6H12O6 + 6O2 = 6CO2 + 6H2O + Q

Chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng trong thức ăn chủ yếu là đường C6H12O6 được phản ứng với ôxy trong máu (phản ứng ôxy hóa, nhờ có ôxy không không khí hít vào) để tạo ra CO2; hơi nước (trong khí thở ra) và giải phóng ra năng lượng (Q). Năng lượng này phục vụ cho mọi hoạt động của con vật, kể cả tạo ra sản phẩm.

Ngoài việc phải cung cấp khí sạch, trong chuồng nuôi còn luôn tỏa ra lượng nhiệt lớn, độ ẩm cao, phân và nước thải vật nuôi lên men, sinh ra nhiều bụi, khí “thối” như H2S; NH3… tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn sinh sôi gây ra nhiều mầm bệnh, dịch bệnh nguy hiểm cho vật nuôi làm tổn hại sức khỏe vật nuôi và con người nên cần phải được đẩy ra ngoài càng sớm càng tốt đặc biệt vào những lúc nhiệt độ cao, đó là lý do tại sao chuồng nuôi cần thông thoáng.

 

3.1.4. Mật độ.

Diện tích chuồng nuôi bình quân cho mỗi bò sữa khoảng 4 –6 m2.

Mật độ nuôi nhốt đối với trâu, bò thịt: 4-5m2/con.

. Đối với bê tơ lỡ được nuôi riêng thì diện tích chuồng cần phải rộng tối thiểu là 6m2 để bê có thể vận động tương đối thoải mái trong chuồng. Nếu nuôi theo đàn đông thì diện tích tính trên mỗi con có thể giảm xuống còn 2,5-4,5 m2/con.

3.2. Kỹ thuật xây dựng chuồng nuôi trâu bò, dê

3.2.1. Chọn địa điểm

Chuồng được xây dựng ở khu đất cao ráo, thoáng mát, cuối hướng gió, thoát nước, tốt nhất là xa nhà ở, xa khu dân cư. Khi điều kiện chật chội thì cần bố trí hợp lý để có thể làm vệ sinh tốt được.

Hướng chuồng

Tốt nhất là hướng nam, đông nam để có gió mát, tránh được gió mùa đông bắc, đủ ánh sáng. Nếu chuồng phải làm theo hướng đông bắc, tây bắc thì cần có rèm che.

3.2.2. Thiết kế mặt bằng

Bố trí mặt bằng: Phải đảm bảo diện tích về quy mô chăn nuôi, các khu phụ trợ khác (xử lý môi trường,....)..

3.2.3. Các kiểu chuồng nuôi trâu bò

Kiểu chuồng hai dãy: có thể là chuồng hai dãy đối đầu (đường đi cho ăn ở giữa, máng ăn và máng uống bố trí dọc theo lối đi), hoặc chuồng hai dãy đối đuôi (lối vào thu dọn phân ở giữa hai dãy).

- Kiểu chuồng một dãy: thích hợp cho chăn nuôi bò sữa nông hộ, quy mô nhỏ. Ưu điểm là có thể tận dụng, tiết kiệm được nguyên vật liệu, dễ đặt vị trí.

- Kiểu chuồng nhiệt đới: là kiểu chỉ có mái che mưa nắng mà không có tường bao quanh. Kiểu này thích hợp với điều kiện của miền Nam nước ta

3.2.4. Qui cách và tiêu chuẩn chi tiết kỹ thuật trong chuồng nuôi

- Mái chung: Cao, rng, có đ dc 60 - 70%.

- Tường: Cn có đ đ dày đ tránh mưa bão, rét, lnh; tường cao 1 - 1,2m. Mùa đông s dng phên na che chn gió.

- Ca ra vào: Phi rng hơn thân trâu, bò đ tránh c sát vào ca.

- Nn: Cao hơn mt đt bên ngoài, có đ dc 3% hướng v rãnh thoát nước, làm bng đt nn cng, láng nn xi măng hoc làm bng g.

 - Máng ăn: Chiu dài 80cm, chiu rng 50cm, chiu sâu 40cm, thành bên trong 35 - 40cm (có th s dng ván đ ghép, hoc xây).

- Rãnh thoát nước tiu: Làm theo chiu dài chung, chiu rng 25cm, sâu 10cm.

Tiêu chun din tích chung nuôi trâu, bò

TT

Nhóm trâu, bò

Chiu dài (m)

Chiu rng (m)

Din tích (m2)

Din tích xây dng (m2)

1

Trâu, bò đc ging

2

1,8

3,6

6

2

Trâu cái giống

1,8

1,2

2,2

3

3

Bê nghé sơ sinh - 6 tháng tuổi

1,0

0,9

0,9

1,5

4

Trâu, bò đẻ

2,0

1,5

3,0

5

5

Bê, nghé đực cái 7 - 18 tháng tuổi

1,2

1,0

1,2

2

6

Trâu, bò đực trên 18 tháng tuổi

1,5

1,0

1,5

2,4

7

Trâu, bò v béo

1,6

1,1

1,76

2,4

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài 4:  Dinh dưỡng và thức ăn cho trâu bò

4.1. Nhu cầu dinh dưỡng của trâu bò

4.1.1. Nhu cầu năng lượng

        Nhu cầu về VCK cho thú ăn cỏ mới chỉ nói lên số lượng thức ăn nhưng chất lượng thức ăn phải  được tính dựa trên nhu cầu về năng lượng và protein. Về khía cạnh dinh dưỡng, năng lượng được lượng hoá bởi khả năng sản xuất nhiệt lượng từ quá trình oxy hoá trong cơ thể động vật hoặc là mất năng lượng trong quá trình bài tiết của cơ thể (Smith vàvluir - 1977). Việc cung cấp đầy đủ năng lượng cho thú ăn cỏ làm tăng hiệu quả sử dụng các chất dinh dưỡng trong thức ăn. Thiếu hụt năng lượng trong khẩu phần sẽ làm thú sinh trưởng chậm, thành thục kém, giảm sản lượng sữa là khối lượng cơ thể.

Nhu cầu năng lượng cho thú ăn cỏ phụ thuộc vào tuổi, khối lượng cơ thể, khả năng sinh trưởng và cho sữa, giai đoạn chửa, điều kiện môi trường sống..... Nhu cầu năng lượng cho thú ăn cỏ bao gồm: Nhu cầu duy trì + Nhu cầu sản xuất. Việc tính toán nhu cầu về năng lượng sẽ được cụ thể hoá trong các phần kỹ thuật chăn nuôi cho từng đối tượng: sinh sản, cho sữa, cho thịt…

4.1.2. Nhu cầu protein

        Protein là một loại chất dinh dưỡng cần thiết cho mọi quá trình sinh trưởng và sản xuất sữa cũng như quá trình phát triển của thai, hình thành các tổ chức cơ quan của cơ thể. Trâu, bò, dê con đang tuổi lớn thì yêu cầu về protein cao hơn Protein rất cần cho Trâu, bò dê cái vì nó tạo nên protein trong sữa.

Khi bổ sung protein cho trâu, bò, dê không nên cho ăn quá nhu cầu. Khi cho ăn vượt quá nhu cầu thì protein được sử dụng như là một nguồn năng lượng, như vậy sẽ làm giảm hiệu quả kinh tế bởi vì thức ăn protein thường đắt hơn so với thức ăn tinh bột

Nhu cầu protein cho trâu, bò, dê bao gồm nhu cầu duy trì và nhu cầu sản xuất (gồm nhu cầu cho sinh trưởng, mang thai, cho lông, cho sữa), được xác định bằng đơn vị protein tiêu hóa (DP).

4.1.3. Nhu cầu khoáng

           Khoáng rất cần thiết cho quá trình sinh trưởng cũng như sinh sản và chúng chiếm khoảng 5% khối lượng cơ thể. Khoáng cần thiết để phát triển xương, răng, mô và cần cho quá trình tạo nên các enzim, hormon và các chất cần thiết khác cho cơ thể. Trong các chất khoáng thì Canxi và Photpho là 2 thành phần chính hình thành nên bộ xương.

Tỷ lệ giữa Canxi và Photpho vào khoảng 2: 1.

Nhu cầu về khoáng cho dễ bao gồm hai nhóm chính khoáng đa lượng (Ca, P, K. Na, Mg, S. Cl) và khoáng vi lượng (Fe. I, Cu, Mg, Zn, Cr, Co, Se).

+ Khoáng đa lượng

     Nhu cầu Ca, P rất cần thiết cho các loại gia súc trong quá trình tạo xương, răng. mô và tạo sữa. Khi thiếu Ca, P gia súc sẽ sinh trưởng kém, ăn kém, ngoại hình xấu. Khi cho ăn khẩu phần hỗn hợp cỏ họ đậu gà hoà thảo sẽ giảm được sự thiếu hụt Ca, P (Tỷ lệ Ca/P thích hợp trong khẩu phần ăn của dê là 2/1 ). Nhu cầu Na, Cl: thường thiếu trong cỏ, nên có thể bổ sung bằng các loại muối ăn thông thường và dưới dạng tảng liếm.

           Nhu cầu Mg: Cần thiết cho các hoạt động riêng biệt của hệ thống thần kinh và hoạt động của men. Khi thiếu Mg thì trâu, bò, dê biếng ăn, dễ bị kích thích.

Nhu cầu S: Lưu huỳnh là thành phần của một số amino axit (Methionin, Cystin,

Cystein) và là một nguyên tố cần thiết trong quá trình tổng hợp protein trong dạ cỏ của vi sinh vật.

+ Khoáng vi lượng

         Nhu cầu khoáng vi lượng đối với dê không cao lắm, nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất trong cơ thể, quá trình sinh trưởng phát triển, sinh sản và mọi hoạt động sống khác.

Ví dụ về nhu cầu khoáng của dê

4.1.4. Nhu cầu vitamin

      Các vitamin rất cần thiết đối với cơ thể, mặc dù với số lượng rất nhỏ. Gia súc nhai lại không đòi hỏi cao về vitamin nhóm B, C, K vì hệ vi sinh vật sống cộng sinh trong dạ cỏ của chúng có thể tự tổng hợp được các loại vitamin này. Hơn nữa, mô của trâu,bò,dê, cừu có thể tự tổng hợp được vitamin C, K. Riêng vitamin A, D, E cần phải cung cấp thêm trong khẩu phần ăn với một lượng như sau:

Vitamin A: 3500 - 11000 UI/con/ngày.

Vitamin D: 250 - 1500 UI/con/ngày.

Vitamin E: 50 - 100 mg/con/ngày.

4.1.5. Nhu cầu nước uống

       Nhu cầu nước của cơ thể con vật phụ thuộc vào bản chất thức ăn, điều kiện nhiệt độ, độ ẩm của môi trường và tình trạng sinh lý của cơ thể.Tăng thêm lượng protein, khoáng và muối vào thức ăn có thể tăng nhu cầu nước, vì cơ thể cần phải thải những sản phẩm trao đổi và lượng muối dư thừa qua thận bằng con đường thải nước tiểu. Có mối quan hệ qua lại giữa lượng VCK thu nhận và nhu cầu về nước. Bò trưởng thành không tiết sữa cần được cung cấp khoảng 3-8,5 kg nước đối với mỗi kg VCK thu nhận. Số lượng này sẽ tăng thêm 50% đối với bò cái có thai ở giai đoạn cuối. Bò đang tiết sữa cần thêm 0,87 kg nước cho mỗi kg sữa. Khối lượng này được xác định ở vùng ôn đới, còn ở vùng nhiệt đới cần phải điều chỉnh cho phù hợp. Mỗi vùng có điều kiện môi trường riêng, có các giống gia súc đặc trưng và nguồn thức ăn riêng, do vậy cần phải xác định nhu cầu nước thích hợp. ở vùng lạnh (<100 độ C) lượng nước thu nhận ở bò (Bos taurus) có thể thấp, khoảng 3kg/kg VCK, nhưng nhu cầu nước sẽ tăng lên khoảng 8kg/kg VCK khi nhiệt độ tăng cao trên 320 độ C.

        Do có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu nước nên khó xác định chính xác nhu cầu về nước. Nguồn nước đầu tiên cung cấp cho gia súc là từ thức ăn và nước uống tự do. Một phần nhỏ bắt đầu từ quá trình trao đổi chất trong cơ thể (oxy hoá sinh học). Nước mất khỏi cơ thể theo các con đường khác nhau thông qua nước tiểu, phân, sự bốc hơi qua hô hấp và tiết mồ hôi. Nước cung cấp cho trâu bò phải đảm bảo yêu cầu sạch (không nhiễm các chất bẩn), lành (không mang mầm bệnh, không có chất độc) và ngon (không có mùi lạ, thoáng khí, trung tính, nhiệt độ thích hợp, bò thích uống). Tốt nhất là cho trâu bò uống tự do ở mọi thời gian để con vật tự điều chỉnh lượng nước uống theo nhu cầu của cơ thể.

Dê có khả năng tiết kiệm nước bằng cách giảm thải nước tiểu và phân.

4.1.6. Nhu cầu vật chất khô

     Mức tiêu thụ vật chất khô (D.M.I.). Mức tiêu thụ này được tính vào khoảng 3% thể trọng bò, đây là loại thức ăn không có nước và có thể cho bò ăn hàng ngày. Chẳng hạn, con bò n ặng 500kg thì có thể cho bò ăn khoảng 15 kg vật chất khô một ngày. Trong đó, ít nhất, phải cho bò ăn 7.5kg vật chất khô trong loại thức ăn chứa chất xơ như cỏ và các loại cây trồng khác như ngô (tức là 50% là th ức ăn xanh). 7.5 kg vật ch ất khô vào khoảng 38 kg thức ăn xanh ( 80% là nước). Thức ăn tinh bao g ồm các dạng hạt như ngô, cám và đậu tương. Số lượng thức ăn tinh trong vật chất khô nên được giới hạn dưới 50%. Bởi vì, bò sữa thuộc lại động vật nhai lại. Thức ăn chính cho bò là thức ăn xanh chứ không phải là thức ăn tinh. Nếu ăn quá nhiều thức ăn tinh bò sẽ m ắc ph ải một số bệnh về tiêu hoá và trao đổi chất, dẫn đến khả năng sản xuất  sữa và khả năng sinh sản kém

4.2. Thức ăn và kỹ thuật chế biến sử dụng

4.2.1. Nguồn thức ăn cho trâu bò

       Thức ăn thô xanh bao gồm các loại cỏ trồng và cỏ tự nhiên cho trâu bò ăn dưới dạng thu cắt hay chăn thả (gặm cỏ). Cỏ xanh là loại thức ăn ngon và phù hợp với sinh lý tiêu hoá đối với trâu bò. Thành phần dinh dưỡng của cỏ xanh khá cân đối và tỷ lệ tiêu hoá khá cao, thay đổi tuỳ theo giống cỏ, giai đoạn thu cắt, điều kiện thời tiết cũng như các điều kiện nông hoá, thổ nhưỡng của đất trồng. Cỏ xanh là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng nhất cho trâu bò từ đường trong thân cây, xơ (xenluloza và hemixenluloza) của vách tế bào thực vật và tinh bột urong hạt cây (nếu có).

      Ngoài ra còn có thể tận dụng các phụ phẩm trong nông nghiệp như rơm, thân cây bắp, dâu đậu..và các phụ phẩm trong chế biến thực phẩm như bã bia, xác đậu..

Thức ăn tinh bao gồm cám gạo, hay cám được chế biến sẵn...

4.2.2. Kỹ thuật trồng, chế biến, dự trữ và sử dụng thức ăn cho trâu bò

Cách trồng và thu hoạch cỏ voi.

Sau khi làm đất kỹ bón lót từ 10 – 20 tấn phân hữu cơ, làm hàng cách hàng cách nhau từ 50 – 60 cm và bụi cách bụi từ 30 – 40 cm. Sau khi trồng 60 -  90 ngày là cắt lứa đầu, nếu phân đầy đủ cứ sau 40 ngày cắt lại một lần. mỗi lần cắt 1 ha cho từ 30 – 40 tấn. một năm có thể cắt từ 8 -9 lần.

Cách trồng và thu hoạch cỏ Stylo

* Yêu cu đt trng và chun b đt

 Cỏ Stylo phù hợp với chân ruộng cao, ngay cả các vùng đất đồi cao. Cây có thể mọc trên nhiều loại đất khác nhau: đất chua, đất nghèo dinh dưỡng

Yêu cầu làm đất kỹ như trồng cỏ voi (cày, bừa hai lần), cày sâu 15 - 20cm, bảo đảm đất tơi nhỏ. Làm sạch cỏ dại. Giữa hai lần cày bừa nên cách nhau 10 - 15 ngày để diệt được nhiều cỏ dại trước khi gieo trồng. Sau khi làm đất kỹ, rạch hàng sâu khoảng 15cm (nếu trồng bằng cách giâm) và 10cm (nếu gieo bằng hạt), các hàng cách nhau 45 - 50 cm.

Cách ủ rơm với ure

Mục đích: làm tăng độ tiêu hóa và tăng giá trị dinh dưỡng của rơm cho bò.

          Hố ủ: Có thể dùng hố nửa nổi nửa chìm xây bằng gạch hố ủ bằng đất lót đáy và thành hố bằng nilon hoặc ủ bằng cây rơm xung quanh có nilon bao kín.

Lấy 400g ure pha đều vào 10 lít nước, cân 10kg rơm, mỗi lần rải đều lớp dày 20 – 30cm vào hố ủ, dùng bình tưới rau tưới nước 4% ure vào rơm, cứ 10 kg thì tưới 10 lít nước pha ure, nếu rơm ướt thì lượng nước ít hơn (khoảng 7lit) nhưng vẫn đủ 400g ure. Dùng chân dậm cho chặt rơm, sau đó rải tiếp 10 kg rơm và lập lại các động tác như vậy cho đến khi đủ số lượng bò ăn trong 7 ngày. Cuối cùng phủ nilong kín lên mặt trên. Sau 7 ngày ủ bắt đầu lấy cho bò ăn và ủ tiếp hố thứ 2. Một bò một ngày có thể ăn 5 – 7 kg rơm ủ.

Chú ý: không cho nước mưa và gió lọt vào, khi cho bò ăn rơm ủ ure phải cho uống nước đầy đủ. Tuyệt đối không cho bò ăn trực tiếp ure.

KỸ THUẬT Ủ XANH (Ủ CHUA) THỨC ĂN CHO TRÂU, BÒ

Ủ xanh là biện pháp bảo quản, dự trữ thức ăn thô xanh thông qua quá trình lên men yếm khí. Dự trữ được thức ăn trong thời gian dài.

1. Nguyên liệu: (tính theo trọng lượng 100kg thức ăn thô xanh)

- Thức ăn xanh: 100 kg cỏ voi, cỏ VA06, cỏ Guatemalla, thân, lá cây ngô sau thu hoạch, cây lạc, ngọn lá sắn...

- Bột ngô hoặc bột cám gạo: 5-10kg (không bị ẩm, mốc, thối hỏng...).              

- Muối ăn: 0,5kg (nhằm tạo tính ngon miệng và bổ sung thêm chất khoáng cần thiết cho gia súc khi sử dụng).

2. Thời vụ ủ: Có thể ủ quanh năm, nhưng để dự trữ thức ăn cho vụ đông thì tiến hành ủ từ tháng 9-11 dương lịch vì thông thường nếu ủ theo đúng kỹ thuật có thể bảo quản thức ăn sau ủ từ 3-4 tháng. 

3. Hố, túi ủ và các dụng cụ cần thiết:

Tùy theo điều kiện kinh tế và điều kiện của từng nông hộ, địa phương mà có thể sử dụng hố xây hoặc hố đào có lót bạt dứa hay dùng túi nilon để ủ.

- Hố ủ: Chọn nơi cao ráo, không ứ đọng nước, thuận tiện đi lại và cạnh chuồng nuôi. Hố có thể có thể làm hố tròn, hố vuông hay hình chữ nhật. Kích thước tùy vào số lượng gia súc và định lượng thức ăn/con/ngày. Tuy nhiên với hố có thể tích 1m3 (1m x 1m x 1m) có thể chứa 300-400kg nguyên liệu. Do đó, nên làm 1 hố ủ có dung tích ủ đảm bảo trữ lượng thức ăn đủ cho số lượng gia súc sử dụng trong vòng 15-20 ngày.

- Túi ủ: Dùng túi nilon bên ngoài là bao tải dứa hoặc có thể tận dụng vỏ bao đựng phân đạm làm túi ủ. Thông thường 3 túi ủ được 100kg thức ăn xanh.

- Các dụng cụ cần thiết: Dao, thớt hoặc dùng máy thái thức ăn dùng để băm, thái thức ăn. Bạt, bao dứa, rơm rạ, tấm lợp... để che đậy hố ủ.

3. Kỹ thuật ủ

Khi ủ có thể sử dụng và ủ nhiều loại cỏ với nhau nhưng phải đảm bảo các tiêu chuẩn theo các bước sau:

Bước 1: Băm và phơi nguyên liệu:

Cỏ thu hoạch về tiến hành băm, thái thành từng đoạn dài 3-5cm, sau đó đem đi phơi tái.

- Phơi dưới sân hoặc bạt dứa sạch để giảm bớt độ ẩm (lượng nước) trong cỏ. Khi cỏ có độ ẩm khoảng 65-70% là phù hợp để đem ủ.

- Kiểm tra độ ẩm của cỏ trước khi ủ bằng cách dùng tay nắm một nắm cỏ sau khi phơi trong vòng 1 phút, rồi từ từ nhả ra và thấy:

+ Cỏ mở ra từ từ, các nếp trên lá để lại đường gấp không rõ ràng, không bị gẫy nát thì độ ẩm đạt 65-70%.

+ Cỏ mở ra từ từ, các nếp trên lá không để lại đường gấp, không bị dập nát thì độ ẩm trên 70% tiếp tục phơi.

+ Cỏ bung ra ngay thì độ ẩm dưới 60%, nếu là cỏ non đem ủ thì có chất lượng tốt, cỏ già sẽ cứng nên khi đem vào túi ủ rất dễ bị thủng túi.

Bước 2:  Cân và phối trộn nguyên liệu:

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ các nguyên liệu, tiến hành cân theo tỷ lệ: 100kg cỏ + 5-10kg bột ngô hoặc cám gạo + 0,5kg muối ăn rồi phối trộn nguyên liệu.

Để đảm bảo các nguyên liệu được trộn đều với nhau, cần tiến hành trộn đều muối ăn với bột ngô hoặc cám gạo, sau đó đem hỗn hợp này trộn đều với cỏ.

Bước 3:  Cách ủ:

- Với túi ủ: Nguyên liệu sau khi đã trộn đều đem cho vào túi càng nhanh càng tốt sau đó buộc kín túi ngay. Tốt nhất là từ khi cắt thức ăn về cho đến khi cho vào túi ủ diễn ra trong cùng một ngày.

+ Cách cho vào túi: Cho từng lớp vào túi cao từ 15 - 20cm, rồi dùng tay lèn chặt, chú ý cần nén trên toàn bộ bề mặt, xung quanh và các góc, sau đó tiếp tục cho các lớp khác cứ như vậy cho đến khi đầy bao thì dùng dây buộc chặt lại, ghi ngày tháng ủ, đưa vào bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh chuột, bọ, gián... cắt thủng bao, không khí sẽ xâm nhập làm mốc, thối thức ăn.

- Với hố ủ: Vệ sinh sạch sẽ hố ủ trước khi đem nguyên liệu vào ủ. Lót đáy hố bằng gạch hoặc rơm khô, xung quanh bằng bạt dứa, túi nilon đảm bảo kín, không bị hở. Cách đưa nguyên liệu vào tương tự như đem vào túi ủ, khi đầy hố thì phủ thêm 1 lớp rơm rạ và tiến hành che đậy kín đảm bảo không khí và nước mưa không vào.

- Sau 1 tháng ủ thì có thể lấy ra cho gia súc ăn được.

*. PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN

Vào ngày đầu tiên nên cho ăn lượng nhỏ để cho trâu, bò ăn quen dần, sau đó tăng dần và đến ngày thứ 3 hay ngày thứ 4 thì cho ăn lượng tối đa cần thiết. Lượng thức ăn ủ xanh cho trâu, bò ăn một ngày đêm là: Trâu, bò: 7-12kg; bê, nghé: 4-7kg. Ngoài ra cho ăn thêm cỏ xanh và rơm.

Lưu ý: Trâu, bò có chửa ở thời kỳ cuối, trâu, bò nuôi con, bê, nghé quá nhỏ, đang bị tiêu chảy không cho ăn thức ăn ủ xanh.

 

·        Cách làm đá liếm

Các dụng cụ cần thiết để làm một tảng liếm:

 

+ Hỗn hợp khoáng chất (vôi, khoáng chất khoảng 30%).

 

+ Muối (30%)

 

+ Cement 0.55 kg

 

+ Nước vừa đủ

 

+ Rỉ đường (40%)

 

+ Một thùng nhựa dung tích khoảng 4-5 lít

 

+ Một sợi dây chắc để treo khối liếm

 

+ Túi nilon

 

+ Một thùng lớn để trộn.

 

+ Trộn đều nguyên liệu trên. Sau đó cho rỉ đường vào trộn thật nhanh để không bị đóng cứng 

 

+ Ðặt túi nilon sao cho vừa vặn với thùng chứa khối liếm để sau đó dễ dàng lấy ra.

 

+ Bẻ một đường cong của sợi dây khoảng 40 cm ở trên sợi dây để treo khối liếm.

 

+ Ðưa một nữa sợi dây vào thùng và đổ hổn hợp trộn vào.

 

+ Ðể thùng trộn vào nơi tránh mưa khoảng 4 ngày.

 

+ Sau khi lấy tảng liếm và treo ở chuồng bò với độ cao thích hợp để bò liếm dần.../.

 

 

 

 

Bài 5: KỸ THUẬT CHĂN NUÔI CÁC LOẠI TRÂU BÒ

5.1. Các phương thức chăn nuôi trâu bò, dê

5.1.1. Nuôi thâm canh

        Đây là phương thức chăn nuôi bò phổ biến ở những nơi không có điều kiện chăn thả, nhưng lại có khả năng đầu tư thâm canh cao, gần các đô thị, thị trường tiêu thụ... Với phương thức này bò được nuôi nhốt, đầu tư thâm canh tại chuồng là chủ yếu.

       Nguồn thức ăn nuôi bò thâm canh phải phong phú và đa dạng, đảm bảo thành phần và giá trị dinh dưỡng cho bò bao gồm các loại thức ăn tinh hỗn hợp giàu dinh dưỡng như đạm, đường, muối khoáng, vi lượng và sinh tố...; thức ăn thô xanh như lá cây, cỏ tự nhiên hoặc trồng cỏ voi, cỏ sả, các loại lá cây giàu đạm như cây kẹo dậu, thân, ngọn, lá mía và các phụ phẩm nông nghiệp... đều là nguồn thức ăn tốt cho bò.

      Việc quản lý đàn bò và công tác nhân giống được tiến hành theo cá thể dễ dàng trên cơ sở theo dõi, ghi chép kết quả sản xuất của cá thể nhằm từng bước nâng cao năng suất của đàn giống.

      Với phương thức này bò được nuôi tại chuồng với  2 hình thức là cột buộc và thả tự do trong chuồng.

       Ưu điểm của phương thức này là: ít tốn diện tích và thức ăn, dễ chăm sóc quản lý cả bò lẫn bê và ít bị nhiễm ký sinh trùng…

          Nhược điểm: là khó phát hiện động dục, chi phí chuồng trại cao (vì chuồng trại phải tuân theo những tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định) và dễ mắc bệnh về chân móng, sản khoa…

5.1.2. Nuôi bán thâm canh

         Đây là phương thức chăn nuôi phổ biến và phù hợp nhất trong điều kiện chăn nuôi ở nước ta. Bò được nuôi theo kiểu chăn dắt hoặc cột buộc luân phiên ở khu vực quanh nhà, hoặc nuôi nhốt kết hợp chăn thả.

        Ngoài các loại cò tự nhiên mà bò kiếm được khi chăn thả vào ban đêm bò cần được cung cấp bổ sung một lượng thức ăn tinh hỗn hợp nhất định như: đạm, muối, khoáng... và cỏ, lá, phế phụ phẩm nông nghiệp khác.

       Việc quản lý đàn và công tác nhân giống bò cũng được tiến hành theo cá thể. Phương thức này được áp dụng để nuôi bò kiêm dụng sữa, thịt.

        Nuôi theo cách này tuy tính cách gò bó, nhưng còn đỡ hơn là cách nuôi thâm canh, cả ngày bò chỉ nhốt trong chuồng và cho ăn tại chỗ. Nuôi theo phương pháp bán thâm canh, sự tốn kém thức ăn cho bò cũng đỡ một phần, vì dù chăn thả một phần bò cũng tự tìm kiếm lấy thức ăn gần no bụng. Khi trở lại chuồng ta chỉ cần cung cấp cho chúng các loại phụ phế phẩm nông nghiệp cũng đủ no. Ngoài ra cũng nên cung cấp vào khẩu phần ăn thức ăn tinh, thức ăn bổ sung khoáng, proteine và Vitamine A-D-E, để dê có đầy đủ dưỡng chất mà sinh trưởng tốt

5.1.3. Nuôi quảng canh

      Đây là phương thức nuôi bò phổ biến ở những vùng trung du và miền núi hoặc những nơi đất đai rộng rãi, có nhiều cỏ, cây... bò được nuôi chăn thả gặm cỏ ngoài bãi là chính hoặc chăn thả hoàn toàn theo bầy đàn, chúng tự tìm kiếm và chọn lọc  những loại thức ăn tự nhiên phong phú và đa dạng...

      Điều kiện để nuôi theo phương thức này là phải có đồng cỏ tự hiên lớn và có chất lượng. Trong phương thức này thì chuồng trại có vai trò không lớn và thiết kế kiểu chuồng đơn giản hơn tuy nhiên trong chuồng cũng cần có máng ăn, uống để  bổ sung cho bò vào những thời gian bò về chuồng.

      Nếu có điều kiện nên bổ sung thêm một lượng thức ăn nhất định tại chuồng vào ban đêm như: thức ăn tinh hỗn hợp, tấm cám ngũ cốc các loại, khoai, sắn, củ quả các loại... thức ăn bổ sung đạm (xác sắn, bã đậu, hèm bia rượu...), muối, khoáng và cỏ, lá, phế phụ phẩm nông nghiệp khác...

         Nuôi bò theo phương thức chăn thả quảng canh cho năng suất thấp nhưng vốn đầu tư về giống, chuồng trại, thức ăn, thuốc thú y, công chăm sóc... thấp hơn nhiều, nên hiệu quả kinh tế cao. Việc quản lý đàn và công tác nhân giống bò theo cá thể. Phương thức này thường áp dụng để nuôi bò lấy thịt. 

5.2. Kỹ thuật chăn nuôi các loại trâu bò

5.2.1. Kỹ thuật nuôi trâu bò, sinh sản

5.2.1.1. Kỹ thuật nuôi trâu bò, dê cái sinh sản

. Chăm sóc bò chửa

Bò cái đẻ cần được ăn uống đầy đủ, mỗi ngày 30-35 kg cỏ tươi, 2 kg rơm ủ, 1kg thức ăn tinh (ngô, cám,…), 25- 30gr muối, 30-40 gr bột xương. Không bắt bò làm những việc nặng như: cày bừa, kéo xe,… Tránh xua đuổi mạnh đối với bò đang có chửa tháng thứ 3, tháng thứ 7, thứ 8 và thứ 9.

. Đỡ đẻ cho bò

Thời gian mang thai trung bình của bò là 281 ngày.

- Triệu chứng bò sắp đẻ: Bò có hiện tượng sụt mông, bầu vú căng, đầu vú chĩa về hai bên, niêm dịch treo lòng thòng ở mép âm môn, đau bụng, đứng lên nằm xuống, chân cào đất, ỉa, đái nhiều lần, khi bắt đầu đẻ bọc ối thò ra ngoài trước.

- Đỡ đẻ cho bò: Trong trường hợp bò đẻ bình thường (thai thuận) không cần can thiệp hoặc chỉ cần hỗ trợ cho bò cái bằng cách dùng tay kéo nhẹ thai ra. Cắt dây rốn dài khoảng 10-12 cm (không cần buộc dây rốn), sát trùng bằng cồn Iốt 5%. Lau rớt, rãi trong mũi, mồm bê, để bò mẹ tự liếm con. Bóc móng để bê con đỡ trơn trượt khi mới tập đi. Vệ sinh phần thân sau và bầu vú bò mẹ, cho bò mẹ uống nước thêm ít muối, cám và nước ấm. Trường hợp đẻ khó cần phải can thiệp kịp thời.

5.2.1.2. Kỹ thuật nuôi trâu, bò, đực sinh sản

*. Nuôi dưỡng: Khi đc ging đến tui giao phi cn có tiêu chun nuôi dưỡng hp lý. Tiêu chun này căn c trên khí lượng cơ th bò đc ging và mc đ phi ging. Vào mùa phi ging nên tăng khu phn ăn t 10 - 20% so vi lúc bình thường. Cn b sung thêm thc ăn giàu protein đng vt (như : trng, xác mm cá, bt máu...) và Vitamine A, E (có trong cà chua, bí đ, mm thóc, đu mc mm). B sung đm phi protein như: bánh đa dưỡng cht, rơm uré. Khi thay đi thc ăn cho bò phi làm dn dn, không thay đi đt ngt. Mùa nng nên chăn th t nhiên và tm hng ngày. Mùa mưa nên gim thi gian chăn th, kim tra móng hng ngày. Bò đc ging d cm th vi các kích thích bên ngoài, cho nên vic qun lý chăm sóc chúng s nh hưởng đến phm cht tinh dch, nht là nh hưởng ti sc sng ca đàn con sau này.

Mt s thí d v khu phn cho bò ăn như sau:

.Th đng lúc có nng tt (khong 6 gi/ngày)

. Rơm 3kg

Lúa nẩy mầm 0.8kg ; Cám mịn 1.5kg ; Muối 60kg

  • Khẩu phần bò đực giống cân nặng 300 kg:

Cỏ tươi cắt 15kg;  Rơm 3kg;  Thóc mầm 1.2kg ; Khoai lang củ 4kg;  Khô dầu 0.5kg

*. Chế đ phi ging: Bò từ 18-27 tháng tuổi mới cho tham quan, 27-30 tháng tuổi mới cho phối giống. Đực phối giống lần đầu tiên một tuần một lần, sau đó tăng dần 3 - 4 lần/tuần. Nếu phối giống nhiều cứ 7 ngày cho đực giống nghỉ 1 ngày. Ngoài ra tuỳ điều kiện dinh dưỡng tốt hay xấu mà điều chỉnh số lần giao phối cho thích hợp.
Một số điểm các chủ hộ chăn nuôi bò đực giống cần biết (mức độ động dục và triệu chứng bên ngoài của bò cái): Không yên tỉnh, rống hoặc rên khẻ, kém ăn, cong lưng tuỳ ý hoặc khi sờ vào hông hoặc vùng hông. Nhảy lên bò cái khác hoặc chịu để những con khác nhảy lên mình. Niêm dịch âm hộ trong suốt dính vào đuôi. Âm hộ cương to, niêm mạc âm đạo đỏ.

* Phòng bnh: Bò đực giống cần phải được tiêm phòng một số bệnh thường gặp như: Tụ huyết trùng, dịch tả trâu bò, sốt lở mồm long móng theo lịch tiêm phòng của Trạm thú y địa phương. Cần có biện pháp phòng chống côn trùng hút máu và truyền bệnh như: chuồng có mùng để tránh ruồi, ve... bệnh ký sinh trùng như tiêm mao trùng...

.

5.2.2. Kỹ thuật chăn nuôi trâu, bò con

* Nuôi dưỡng bê từ 1-6 tháng tuổi:

+ Cần cho bê bú sữa ngay sau khi sinh càng sớm càng tốt để chống còi cọc về sau và tăng được khả năng chống bệnh tật.

+ Tuần đầu giữ bê và bò mẹ ở nhà.

+ Khi bê được một tháng tuổi chăn thả theo mẹ gần nhà và tập ăn thức ăn tinh

.+ Từ 3-6 tháng tuổi: Ngoài ăn thức ăn trên bãi chăn, mỗi ngày cho bê ăn thêm 5-10 kg cỏ tươi, 0,2kg thức ăn tinh.Cai sữa bê vào lúc 6 tháng tuổi.

- Nuôi dưỡng bò từ 6-24 tháng tuổi:

+ Chăn thả là chính.

+ Hàng ngày cần bổ sung  thêm 10-20kg  thức ăn xanh  tại chuồng cho bò, 0,5-1kg  thức ăn tinh

+ Mùa thiếu cỏ, mỗi ngày có thể cho ăn thêm 2-4kg cỏ khô, hoặc rơm ủ với Urê để thay cho thức ăn xanh bổ sung.

+ Mỗi ngày bổ sung  từ 20-30g muối ăn vào nước uống cho bò. Luôn luôn có nước sạch trong máng uống vào ban đêm, đặc biệt  là mùa hè và mùa  sử dụng  rơm khô  làm  thức ăn bổ sung cho bò tại chuồng.

5.2.3. Kỹ thuật chăn nuôi trâu, bò, sữa

* CHN GING:

Trong chăn nuôi bò sữa, công tác chọn đúng giống, giống tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng là yếu tố chính quyết định tới năng suất sữa.

- Con giống quyết định sản lượng sữa 40%.

- Thức ăn 30%.

- Nuôi dưỡng chăm sóc 30%.

Khi chọn bò giống, ta chọn những con không bệnh tật, khỏe mạnh và cần căn cứ vào những tiêu chuẩn sau:

*. Đc đim ngoi hình:

Bò có ngoại hình cân đối (chiều dài, rộng, sâu). Bầu vú rộng, đều, mềm, đầu thanh nhẹ, bốn chân chắc chắn.

*. Tm vóc và khi lượng:

- Đối với bò Hà Lan thuần 3-4 tuổi, P: 450-500 kg.

- Bò Hà-Việt 3-4 tuổi, P: 350-390 kg.

- Bò lai Sind 3-4 tui, P: 280 - 320 kg.

*. Di truyn:

Giống bố mẹ tốt, sản lượng sữa cao, chu kỳ cho sữa dài, khỏe mạnh.

*. Kh năng cho sa:

- Chu kỳ khai thác sữa:

+ Bò Hà - Việt : 270 - 300 ngày.

+ Bò lai Sind : 240 - 170 ngày.

- Năng sut sa trung bình :

+ Bò Hà - Việt : 08 - 10 kg/ngày.

+ Bò lai Sind : 06 - 08 kg/ngày.

Ngoài ra điu kin môi trường, khí hu chung nuôi, cách chăm sóc nuôi dưỡng và cách vt sa cũng có nh hưởng đến thành phn và sn lượng sa.

* CHĂM SÓC VÀ Đ Đ CHO BÒ SA:

Bò cái sắp đẻ tách khỏi đàn 15 ngày trước khi đẻ, theo dõi thường xuyên để có thể can thiệp kịp thời nếu có biến cố xảy ra.

Thông thường, người ta để bò đẻ tự nhiên, sau 2-3 giờ bò chưa đẻ được mới phải can thiệp. Thời gian mang thai của bò là 9 tháng 10 ngày, cũng có nhiều trường hợp chênh lệch lên xuống 5-6 ngày.

*. Vt tư đ đ:

- Nước muối 10% hoặc thuốc tím 0,1%.

- Cồn Iod hoặc Cồn 750.

- Xà bông, rơm, cỏ khô v.v..

- Thuốc thú y cần thiết khi phải can thiệp: Oxytocin, Vitamin C, camphora.

*. Phương pháp đ đ:

- Sát trùng tay bằng Cồn, tắm rửa bò sạch sẽ nhất là phần mông và âm hộ.

- Kiểm tra xem thuận hay nghịch (thai thuận đầu và 2 chân trước hướng ra ngoài, mọi tư thế khác đều gọi là thai nghịch, ta phải sữa lại tư thế thai hay chuẩn bị để có thể can thiệp kịp thời).

Trước khi đẻ bọc ối vỡ, bò rặn và thai lọt ra ngoài. Nếu bò mẹ yếu ta phải kéo thai (lợi dụng lúc bò rặn mới kéo) hoặc kích thích cho bò rặn bằng cách chích cho mỗi con khoảng 100 - 150 UI Oxytocin (Tùy trọng lượng cơ thể) chia 2-3 lần cách nhau 30 phút, chú ý tuyệt đối không được chích quá liều cho phép vì Oxytocin có thể là mẹ rặn quá mức dẫn đến bể tử cung.

Bê lọt lòng để bò mẹ liếm, nếu không phải dùng khăn lau khô bóc móng cho bê đứng, rốn cắt cách bụng 15 cm sát trùng bằng Cồn Iod cho đến khi khô. Bò đẻ xong nên cho uống nước hòa cám và muối. Sau 1 - 2 giờ bê cứng cáp bắt đầu cho bê bú sữa đầu.

Chung bò đ và chung bê phi luôn khô ráo sch s.

*. Giai đon hu sn:

- Cho bò ăn thức ăn bồi dưỡng và thức ăn xanh non.

- Dùng bock rữa tử cung bò bằng nước sát trùng khoảng 3-4 ngày đầu để ngừa viêm.

- Chế độ vắt sữa: Những ngày đầu bò mới đẻ thường thường bầu vú còn cứng do đó lúc vắt sữa ta phải lấy nước nóng chườm bầu vú cho mềm lại đồng thời tăng cường xoa bóp bầu 3 - 4 lần/ngày cho đến khi bầu vú bò mềm hẳn thì lúc đó sản lượng sữa mới tăng dần lên được. Chế độ luyện vú nầy phải làm thường xuyên và liên tục trong thời gian khoảng 10 ngày. Nếu sữa bò vắt có màu hồng ta phải giảm bớt lượng thức ăn tinh.

*/ CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG:

. NUÔI DƯỠNG BÊ T 1 NGÀY TUI ĐN BÒ TRƯỞNG THÀNH:

+. Bê từ 0-7 ngày tuổi :

Sữa mẹ trong 7 ngày đầu có nhiều Colostrum do thành phần sữa có kháng thể và nồng độ dinh dưỡng cao nên phải cho bê bú không được nhập chung vào sữa hàng hóa. Đối với bò khai thác sữa không được cho bê bú trực tiếp mà phải vắt sữa ra xô rồi tập cho bê uống tránh cho bò mẹ có phản xạ mút vú rất khó vắt sữa sau nầy.

- Cách cho bê uống sữa:

+ Nhúng ngón tay vào sữa rồi bỏ vào miệng bê cho bê mút. Từ từ kéo dần ngón tay xuống xô sữa, bê mút ngón tay sẽ mút luôn cả sữa vào miệng. Tập khoảng 3-4 lần là bê quen sẽ tự động uống sữa trong xô được.

Ưu điểm: Nhanh, vệ sinh xô chậu dễ, tiết kiệm.

Khẩu phần sữa từ 5 - 6 kg/ngày tùy trọng lượng bê sơ sinh.

*. Bê t 8-120 ngày tui:

Ngoài sữa làm thức ăn chính cần phải tập cho bê ăn cỏ, cám để sớm phát triển dạ cỏ. Bê 4 tháng chuẩn bị giai đoạn cai sữa phải bổ sung thêm đạm, khoáng vi lượng và đa lượng vào khẩu phần.

Khu phn sa:

- Bê 08 - 30 ngày tuổi : 6 kg.

- Bê 30 - 60 ngày tuổi : 4 kg.

- Bê 60 - 90 ngày tuổi : 2 kg.

- Bê 90 - 120 ngày tuổi : 1 kg.

Tùy điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng mà ta có thể thay từ từ một phần sữa bằng cháo bắp hay tấm... Nếu bê tiêu chảy phải cân đối lại khẩu phần kịp thời.

*. Giai đon bê cai sa đến tơ l:

Đây là giai đoạn chuyển tiếp rất quan trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, tình trạng kỹ thuật và bệnh tật, sự phát triển của cơ thể là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thành thục và sản lượng sữa của bò sau nầy. Do đó việc chăm sóc nuôi dưỡng, chế độ ăn uống, tắm chải và vận động phải thực hiện tốt và nghiêm ngặt.

Khẩu phần cho bò ở giai đoạn nầy bao gồm:

- Thức ăn tinh: cám hổn hợp (16 - 18% protein)

* 4 - 12 tháng tuổi: 0,6 - 0,8 kg/con/ngày.

* Tơ lỡ: 1 - 1,2 kg/ngày.

- Thức ăn bổ sung bao gồm mật, muối, Urea, những loại thức ăn nầy thường bổ sung vào mùa nắng, cỏ khô không đủ dinh dưỡng cho bò bằng cách hòa nước tưới vào cỏ.

Chú ý: Urê ch b sung cho đến 9 - 12 tháng vi lượng 15-20 gr/con chia 3 ln/ngày.

- Thức ăn thô: Cỏ, rơm cho ăn tự do.

* NUÔI DƯỠNG BÒ VT SA:

1. Yêu cầu: Cho sản lượng sữa cao, động dục sớm, trạng thái sức khỏe tốt.Khẩu phần: Bao gồm khẩu phần sản xuất và khẩu phần duy trì.

* Khu phn sn xut:

0,4 đơn vị thức ăn cho 01 kg sữa (1 ĐVTĂ = 1 kg cám HH).

* Khẩu phần duy trì: 0,1 đơn vị thức ăn cho 100 kg thể trọng.

Trong thực tế ta chỉ cung cấp cám cho khẩu phần sản xuất còn khẩu phần duy trì cấp bằng cỏ, mật v.v...

Thức ăn xanh cho ăn tự do (tương đương 10% trọng lượng cơ thể).

Lượng nước cần 40 - 50 lít nước/con/ngày. Bò có sản lượng sữa cao có thể cần tới 100 - 120 lít nước trở lên. Mùa khô bổ sung thêm năng lượng (rĩ mật) và đạm (Urea 60 - 80 gr/con/ngày chia 3 lần).

*. Nhng quy đnh v vt sa:

- Vắt đúng giờ, cố định người vắt.

- Giữ yên lặng nơi vắt sữa, không hút thuốc, không gây cảm giác khó chịu đối với bò. Công nhân vắt sữa phải rửa tay sạch sẽ, móng tay cắt ngắn, đeo khẩu trang và không mắc bệnh truyền nhiễm.

- Chuồng trại và dụng cụ vắt sữa sạch sẽ, hợp vệ sinh.

- Bò cao sản vắt trước, trung sản và thấp sản vắt sau. Bò không bị viêm vú vắt trước, bò viêm vú vắt sau. Trong 01 con bò có viêm vú, vú nào không viêm vắt trước, vú viêm vắt sau. Sữa bò viêm không được sử dụng.

- Sữa bò trong vòng 10-15 ngày đầu chứa nhiều kháng thể và hàm lượng dinh dưỡng cao nên chỉ cho bê uống không được nhập chung vào sữa hàng hóa. Không sử dụng sữa lấy từ  gia súc mới tiêm kháng sinh trong vòng 24 giờ, gia súc chích vaccine nhiệt thán trong vòng 15 ngày.

*. Quy trình vt sa:

- Đưa bò vào vị trí vắt, cho bò ăn thức ăn tinh theo khẩu phần.

- Cố định cổ, cột chân bò. Người vắt sữa phải ngồi đúng tư thế vắt sữa (đứng bên phải bò, xô vắt sữa phải đặt trước mặt).

Rửa vú bằng nước sạch, dùng khăn lau khô vắt bỏ vài tia sữa đầu kiểm tra viêm vú bằng cách vắt mỗi vú vài tia sữa vào miếng vải đen (nếu lợn cợn là bị viêm).

Xoa kích thích: Mục đích gây cảm giác dễ chịu, kích thích sữa xuống và bò bình tỉnh cho vắt sữa.

Cách làm: Ngón trỏ đến ngón út nắm giữa 2 bầu vú bên trái, ngón cái làm chuyển động toàn thân bầu vú trái. Sau đó hai nữa bàn tay chuyển sang bầu vú phải, ở đây hai ngón cái nắm ở bầu vú bò và hai bàn tay làm chuyển động tròn theo bầu vú gây kích thích cho con vật bình tỉnh đứng yên, sữa trên bể dồn xuống 4 núm vú.

Cách vt: (Vắt nắm 70 - 90 nắm/phút).

Trước hết ngón cái và ngón trỏ nắm và thích chặt phần cơ vú để sữa không trở ngược lại bầu vú được, sau đó lần lượt thích chặt các ngón 2, 3, 4 để sữa chảy vào bầu vú, ngón út để cách bầu vú khoảng 0,5 cm, khi sữa thoát ra khỏi núm vú, ngón cái, ngón trỏ và ngón khác mới lần lượt buông. Dưới áp lực của áp suất sữa trong bầu vú, bể sữa dẫn dần sữa xuống núm vú và các thao tác vắt lại được lập lại như ban đầu, 1 lít sữa vắt trong vòng 1 phút là vừa.

Thứ tự vắt đối với các núm vú ảnh hưởng đến sản lượng sữa. Do mối liên hệ qua lại giữa các bể sữa mà đưa ra quy tắc vắt: Vắt chéo thẳng một phía là tốt nhất.

Xoa kết thúc: Vắt sữa còn khoảng 8 - 10% sữa trong bầu vú thì dừng lại tiến hành xoa kết thúc. Trước hết xoa nữa bầu vú trái rồi chuyển sang nữa bầu vú phải giống xoa  kích thích nhưng ấn mạnh hơn để dồn sữa còn lại xuống núm vú. Tiến hành vắt kiệt, vuốt kiệt để tránh tình trạng viêm vú.

Bước xoa kích thích và xoa kết thúc cần làm nhẹ nhàng, chú ý tránh làm thô bạo gây cảm giác khó chịu cho gia súc, thời gian mỗi bước kéo dài không quá 1 phút. Sau khi vắt rữa lại bầu vú bằng nước sạch, lau khô. Cần tránh cho bò nằm ngay vì vi sinh vật ở nền chuồng dễ xâm nhập vào bầu vú khi lỗ núm vú chưa kịp đóng lại. Nếu bò bị viêm vú cần đIều trị ngay để tránh lây lan.

- Giữa 2 lần vắt sữa, người công nhân phải dọn rữa, lau chùi, vệ sinh nền chuồng, máng ăn, máng uống. Nền chuồng khô, không có nước đọng (là môi trường dễ tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển và xâm nhập vào bầu vú).

*/ NUÔI DƯỠNG BÒ CN SA:

Thời gian khai thác sữa kéo dài khoảng 270-300 ngày. Tuy nhiên một số con có năng suất sữa cao chậm lên giống có thể khai thác trên 300 ngày.

Thời gian bò mang thai 9 tháng 10 ngày thì bò đẻ. Tùy theo biến động sinh lý trong giai đoạn mang thai mà thời điểm bò đẻ tăng hoặc giảm 5-6 ngày.

Khi bò mang thai được 7 tháng bắt buộc phải cho cạn sữa, dù năng suất nhiều hoặc ít mục đích đảm bảo sản lượng sữa, sức khỏe bò mẹ, sức khỏe bê con trong lứa tới. Thức ăn thời kỳ nầy phải kèm theo khẩu phần mang thai.

Những ngày sắp đẻ và những ngày đầu sau khi đẻ, xét tình trạng sức khỏe của từng con mà giảm thức ăn để kích thích tiết sữa (cám, mật v.v...)

Cách cạn sữa: Bò vắt sữa đến tháng mang thai thứ 7 bắt buộc cạn sữa. Tùy bò sữa nhiều hoặc ít có thể cạn sữa theo 2 cách sau:

* Đối với bò 4-5 lít trở lên:Giảm số lần vắt trong ngày từ 2 lần xuống 1 lần/ngày hoặc 2 - 3 ngày vắt 1 lần.

* Thay đổi giờ vắt sữa.

* Thay đổi thứ tự thao tác vắt.

* Cắt thức ăn tinh và thức ăn nhiều nước, hạn chế nước uống.

* Đối với bò 2 - 3 kg/ngày có thể cạn sữa bằng cách 3-4 ngày vắt 1 lần sau đó để sữa tự tiêu. Song song phải thay đổi điều kiện sống và chăm sóc của bò như trên. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra xem bò có bị viêm hay không.

Sau giai đoạn cạn sữa, Cho bò ăn lại khẩu phần bình thường.

Thức ăn tinh: 1,5 kg/con/ngày.

Thức ăn thô: Tự do.

Mùa khô:Bổ sung thêm năng lượng (mật đường)1,2-1,5 kg/con/ngày và đạm (Urêa) 60 - 80 gr/con/ngày.

*Vệ sinh chăm sóc:

.Vệ sinh ăn uống: Thức ăn phải sạch không bị thối, chua, mốc, nước uống sạch, không dùng nước có nguồn bệnh dịch.

. Vệ sinh thân thể:Tắm chảy cho bò thường xuyên định kỳ phun thuốc diệt ve cho bò (Dipterex 0,2%, Tactik 20 ml/8 lít nước v.v...). Sau một thời gian nếu lờn thuốc có thể luân phiên thay đổi thuốc khác.

Tiêu độc định kỳ mỗi tháng 1 lần bằng vôi sống, Formol hoặc Sút. Chuồng phải luôn khô ráo, sạch sẽ.

* Tiêm phòng một số bệnh: Tụ huyết trùng, Lỡ mồm long móng.

* Định kỳ kiểm tra phát hiện bệnh nhất là các bệnh truyền nhiễm dễ lây lan cho người.

5.2.4. Kỹ thuật chăn nuôi trâu, bò, thịt

Trong chăn nuôi bò thịt, có thể chọn nuôi những giống ngoại chuyên dụng. Ưu diểm của các giống này là tốc độ sinh trưởng và tăng trọng lớn, tỷ lệ thịt xẻ cao (trên 60%) và phẩm chất thịt ngon. Tuy nhiên, muốn nuôi được các giống này phải đầu tư lớn, phải nắm bắt được các kỹ thuật chuẩn xác. Cũng có thể dùng các giống bò lai (sử dụng bò đực giống hoặc tinh bò đực giống thịt cho lai với bò cái địa phương đã qua chọn lọc), hoặc thậm chí bò địa phương để nuôi thịt (nhất là trong điều điện chăn nuôi hộ). Điều quan trọng là, phải có đầu tư, áp dụng các biện pháp kỹ thụât chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, hợp lý; cần chia quá trình nuôi dưỡng theo từng giai đoạn: giai đoạn bú sữa, giai đoạn nuôi lớn và giai đoạn vỗ béo. Mục tiêu cần đạt được là, làm sao trong một thời gian nhất định, đạt khối lượng cao, bò có độ béo khá mà tiêu tốn thức ăn cho một kilôgam tăng trọng ở mức thấp nhất.

* Giai đoạn nuôi lớn - từ 7 đến 21 tháng tuổi:

Trong giai đoạn này bê non hoàn thiện các cơ quan nội tạng, phát triển mạnh các chiều cơ thể và tăng trọng nhanh. Chính vì vậy, cần cung cấp cho bê các loại thức ăn nhiều protein như cỏ họ đậu (cỏ stylo, lá keo dậu...), khô dầu, bột cá và nếu cần thiết, có thể bổ sung thêm ure vào khẩu phần dưới các dạng khác nhau. Hàng ngày chăn thả bê non trên bãi hoặc trên cánh đồng 8-10 giờ, để bê có thể tận dụng được nhiều cỏ tươi, đồng thời bê có điều kiện vận động dưới nắng ấm, cơ thể tổng hợp được nhiều vitamin D làm cho bộ xương phát triển vững chắc.

* Giai đoạn vỗ béo - từ 22 đến 24 tháng tuổi:

 Nuôi vỗ béo, là một phương thức chăn nuôi thâm canh được áp dụng trong một thời gian ngắn trước khi giết thịt nhằm đạt mức tăng trọng cao, tích luỹ mỡ nhanh, giảm chi phí sản xuất, đồng thời cải thiện chất lượng thịt và tăng hiệu quả chăn nuôi. Hiệu quả vỗ béo bò thịt phụ thuộc vào:

- Tuổi vỗ béo: vỗ béo bò ở lứa tuổi còn non cho hiệu quả cao. Bởi vì, bò non có tốc độ lớn nhanh, với bộ răng chắc khoẻ nên khả năng tiêu hoá và đồng hoá thức ăn tốt hơn, khả năng tích luỹ cũng cao hơn. Hơn nữa, vỗ béo ở lứa tuổi còn non cho tỷ lệ thịt xẻ cao, chất lượng và độ mềm của thịt tốt hơn. Có thể bắt đầu đưa vào vỗ béo từ 22 tháng tuổi.

- Giống bò đưa vào vỗ béo: Những giống bò chuyên dụng thịt cho kết quả vỗ béo tốt nhất so với các giống bò kiêm dụng hoặc các giống bò địa phương. Bởi vì, chúng đã được chọn tạo để sản xuất thịt, có khả năng tăng trọng cao và cho tỷ lệ thịt xẻ cao.

- Thức ăn sử dụng để vỗ béo: Có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất vỗ béo và phẩm chất thịt bò. Số lượng và chất lượng thức ăn đóng vai trò quan trọng trong việc vỗ béo. Ngoài ra, kỹ thuật cho ăn và cả phương thức chế biến thức ăn cũng có tác dụng đối với hiệu quả của vỗ béo. Thông thường, thức ăn của bò vỗ béo bao gồm cỏ tươi, cỏ khô, rơm lúa khô, thức ăn tinh và thức ăn củ quả. Cần cho ăn loại thức ăn tinh giầu năng lượng để giúp cho cơ thể tích luỹ mỡ nhanh và bò chóng béo. Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng gia đình, mỗi ngày có thể cung cấp cho mỗi con bò vỗ béo 1-2kg thức ăn tinh. Trong giai đoạn này cần hạn chế bê non vận động bằng cách chăn thả gần chuồng để tập trung chất dinh dưỡng vào việc tích luỹ mỡ và nâng cao độ béo.
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, một số lượng lớn trâu bò sau một thời gian sử dụng không còn khả năng sinh sản, làm việc được nữa và được giết thịt. Loại trâu bò này thường gầy yếu, tỷ lệ thịt sẽ thấp và chất lượng thịt không cao, nếu không được vỗ béo trước khi giết mổ. Vỗ béo loại trâu bò này để làm sao sau giai đoạn vỗ béo khối lượng cơ thể tăng 15-20%. Phương thức chăn nuôi chủ yếu là chăn thả trên đồng bãi, kết hợp với thêm cỏ, rơm và thức ăn tinh tại chuồng. Đối với các tỉnh phía Bắc, tốt nhất là vỗ béo trâu bò vào mùa Thu, vì lúc này lượng cỏ tươi phong phú, hơn nữa, thời tiết cũng mát mẻ. Còn đối với các tỉnh phía Nam, có thể vỗ béo trâu bò quanh năm, nhưng vỗ béo vào mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 10 là kinh tế nhất. Thời gian vỗ béo loại trâu bò này thường là 3 tháng:

- Tháng thứ nhất: tiến hành dọn vệ sinh chuồng trại, tẩy giun sán cho trâu bò và cho ăn đủ rơm, cỏ. Đối với những con gầy yếu thì cho ăn thêm các loại thức ăn giàu đạm để nhanh chóng phục hồi cơ thể, tạo đà cho những tháng tiếp theo.

- Tháng thứ hai: chăn thả gần, cho ăn cỏ thoả mãn, tăng lượng thức ăn tinh, bảo đảm đủ nước uống.

- Tháng thứ ba: cung cấp cho trâu bò loại thức ăn giàu gluxit, chăn thả gần chuồng để hạn chế tiêu hao năng lượng và tăng tích luỹ mỡ.

Người ta đều biết rằng trâu bò là con vật sử dụng có hiệu quả thức ăn thuộc tất cả các loại hệ thống nuôi dưỡng. Trong điều kiện chăn nuôi gia đình ở nước ta có hai cách vỗ béo thích hợp là:

        - Vỗ béo bằng chăn thả: chăn thả trâu bò trên bãi chăn 8-10 giờ mỗi ngày để tận dụng cỏ tươi mà không tốn công phu cắt và vận chuyển về chuồng. Ban đêm bổ sung thêm thức ăn tinh và muối ăn. Cách vỗ béo này áp dụng cho những nơi có đồng bãi chăn thả rộng và năng suất cỏ tươi đối khá, bảo đảm cho trâu bò mỗi ngày thu lượm được 20-25kg cỏ tươi.

- Vỗ béo bằng hình thức bán chăn thả: áp dụng cho những nơi ít bãi chăn (như vùng đồng bằng, vùng ven đô, khu công nghiệp). Trâu bò chỉ tận dụng được một phần hoặc một nửa khẩu phần thức ăn trên bãi chăn. Phần còn lại phải bổ sung tại chuồng nuôi, trong đó phải lưu ý đến thức ăn tinh.
Dù áp dụng phương thức vỗ béo nào và với đối tượng trâu bò nào, việc bảo đảm nước uống cho trâu bò là rất cần thiết, đặc biệt là vào mùa khô hanh. Luôn luôn phải bảo đảm cho trâu bò có nước uống sạch sẽ và cho uồng không hạn chế. Thiếu nước sẽ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất và dẫn đến giảm khối lượng cơ thể.

Bài 6:   Phòng và trị một số bệnh thường gặp trên trâu, bò

1. Bệnh nội khoa

6.1. Bệnh bội thực dạ cỏ

6.1.1. Đặc điểm của bệnh

Bệnh dạ cỏ bội thực ở trâu bò là do trong dạ cỏ chứa nhiều thức ăn làm cho thể tích dạ dày tăng lên gấp bội, vách dạ dày căng. Đây là bệnh trâu bò hay mắc, chiếm 40% các bệnh ở dạ dày 4 túi.

6.1.2. Cơ chế sinh bệnh

Hoạt động của dạ cỏ do hệ thần kinh thực vật chi phối vì vậy những nhân tố gây bệnh ở bên ngoài hay trong cơ thể đều làm trở ngại hoạt động của thần kinh mê tẩu, làm giảm vận động của dạ cỏ, cuống hạ vị co thắt làm cho thức ăn tích lại ở dạ cỏ. Thức ăn lên men, thối rữa sinh ra nhiều hơi và các sản vật phân giải như các loại khí và axit hữu cơ. Những chất này kích thích vào vách dạ cỏ, làm cho dạ cỏ co giật từng cơn, con vật đau đớn không yên. Nếu hơi sinh ra nhiều sẽ gây ra chướng hơi, hơn nữa thức ăn trong quá trình lên men sẽ trương to làm căng vách dạ dày dẫn tới dãn dạ dày. Bệnh tiến triển làm cơ trơn co bóp yếu dần, bệnh nặng thêm, vách dạ cỏ bị kích thích gây viêm hoại tử, chất phân giải trong dạ cỏ ngấm vào máu gây trúng độc.

6.1.3. Nguyên nhân gây bệnh

- Do ăn quá no. Trâu, bò ăn quá no các loại thức ăn thô như rơm, cỏ khô, cây họ đậu, bã đậu, hoặc do nhịn đói lâu ngày đột nhiên ăn no, ăn xong uống nhiều nước lạnh ngay đều có thể dẫn đến dạ cỏ bội thực.

- Do chăm sóc kém hoặc thay đổi thức ăn đột ngột, trâu, bò cày kéo mắc bệnh thường do làm việc quá mệt nhọc, ăn xong đi làm ngay, bò sữa mắc bệnh do thiếu vận động.

- Do cơ thể trâu, bò suy yếu, bộ máy tiêu hóa hoạt động kém hoặc do kế phát từ bệnh khác như nghẽn dạ lá sách, liệt dạ cỏ, viêm dạ tổ o­ng do ngoại vật, và dạ múi khế biến vị.

 

6.1.4. Triệu trứng của bệnh

- Bệnh mới phát: Con vật giảm ăn hay không ăn, ngừng nhai lại, hơi ợ ra có mùi chua, chảy dãi, con vật đau bụng tỏ vẻ không yên, khó chịu.

- Đuôi quất mạnh vào thân, đi xoay quanh cọc buộc, lấy chân sau đạp bụng, đứng nằm không yên (có khi chống 4 vó giẫy giụa) khi dắt đi nhìn thấy vật cử động cứng nhắc, hai chân dạng ra.

- Mé trái bụng con vật phình to, sờ nắn thấy chắc, ấn tay vào có dạng bột nhão, con vật đau, cho tay vào trực tràng sờ vào dạ cỏ thấy chắc như sờ vào túi bột, con vật rất khó chịu.

- Gõ vào vùng dạ cỏ thấy âm đục tương đối lẫn lên vùng âm bùng hơi. Vùng âm đục tuyệt đối lớn và chiếm cả vùng âm đục tương đối. Tuy vậy nếu có vật chướng hơi kế phát thì khi gõ thì khi gõ vẫn có âm bùng hơi.

- Khi nghe thấy có âm nhu động dạ cỏ giảm hay ngừng hẳn, nếu bệnh nặng thì vùng bụng trái chướng to, con vật thở nhanh, nông, tim đập mạnh, chân đi loạng choạng, run rẩy, mệt mỏi, cũng có khi nằm mê mệt không muốn dậy.

- Có thể gây viêm ruột kế phát, lúc đầu con vật đi táo, sau khi đi ỉa chảy sốt nhẹ.

6.1.5. Chẩn đoán

Trâu, bò mắc bệnh này thường có những đặc điểm sau:

- Bụng trái căng to, sờ vào chắc, ấn tay vào vùng dạ cỏ để lại vết tay, trâu, bò không ăn, nhai lại giảm. Để chẩn đoán cần phân biệt với các bệnh:

+ Dạ cỏ trướng hơi: Bệnh phát ra nhanh, vùng bụng trái căng to, sờ vào dạ cỏ căng như quả bóng, gia súc khó thở, chết nhanh.

+ Liệt dạ cỏ: Nắn vùng bụng cảm thấy thức ăn nát như cháo, nhu động dạ cỏ căng như quả bóng, gia súc khó thở, chết nhanh.

+ Viêm dạ tổ o­ng ngoại vật: Con vật có triệu chứng đau khi khám vùng dạ tổ ong.

6.1.6. Tiên lượng

Nếu bệnh nhẹ, không kế phát bệnh khác thì sau 3 - 5 ngày sẽ khỏi, nếu kế phát chướng hơi, viêm ruột hay nhiễm độc thì có thể chết.

6.1.7. Điều trị

Nếu ở bệnh nặng phải làm hồi phục và tăng cường nhu động dạ cỏ, tìm cách thải thức ăn tích lâu ngày trong dạ cỏ:

- Cho gia súc nhịn ăn 2 - 3 ngày (không hạn chế uống nước) tăng cường xoa bóp vùng dạ cỏ, dắt cho gia súc vận động để tăng cường cơ năng vận động của dạ cỏ.

- Những ngày sau cho gia súc ăn một ít thức ăn mềm, dễ tiêu và cho ăn làm nhiều lần trong ngày, đồng thời có thể thụt ruột cho gia súc bằng nước ấm.

- Để tống chất chứa trong dạ cỏ ra ngoài cho uống:

+ Sulfat natri: 300 - 500 g/con trâu, bò;

+ Dầu thầu dầu: 400 - 500ml;

+ Dùng pilocarpin: 0,1 - 0,2g tiêm dưới da cho trâu, bò.

- Nếu bệnh chuyển biến tốt, dùng HCl 10 - 12ml hòa vào 1 lít nước cho uống ngày 2 - 3 lần.

Đề phòng thức ăn lên men dùng ichthyol 20 - 30g cho 1 trâu bò, cho uống hoặc dùng formol hòa thành dung dịch 1% cho uống 10 - 15ml đối với trâu bò.

- Có thể dùng lý liệu pháp để kích thích nhu động dạ cỏ, nếu bệnh nặng phải can thiệp bằng phẫu thuật ngoại khoa: mổ dạ cỏ lấy thức ăn ra.

- Nếu trâu, bò có hiện tượng suy tim, dùng cafein hoặc long não để trợ tim.

- Nếu bội thực dạ cỏ có kế phát chướng hơi cấp tính phải dùng troca chọc thoát hơi.

Trong thực tế lâm sàng có thể chữa bằng cách cho trâu, bò uống dung dịch gồm: 100g muối ăn, giã với tỏi hòa vào 1 lít nước cho uống. Dùng biện pháp moi phân hay thụt ruột để kích thích nhu động dạ cỏ.

Nên dùng hyđroxit amon 10% pha vào 1 - 1,5lít nước cho trâu bò uống để hạn chế lên men dạ cỏ và kích thích tiêu hóa, ngày uống 1 - 2 lần; mỗi lần cách nhau 6 giờ, cho uống liên tục 2 - 3 ngày.

6.1.8. Phòng bệnh

Tăng cường chăm sóc quản lý nuôi dưỡng

Chú ý đến chất lượng thức ăn cho bò

6.2. Bệnh chướng hơi dạ cỏ

6.2.1. Đặc điểm của bệnh

- Bệnh phát ra do gia súc ăn phải những loại thức ăn dễ lên men 
sinh hơi hay thức ăn chứa nhiều nước, chất nhầy, khi gia súc nhai lại 
sẽ tạo các thể sủi bọt làm cản trở động tác ợ hơi. 

- Bệnh phát triển rất nhanh.

- Bệnh thường xảy ra đối với trâu bò ở nước ta vào vụ Đông - Xuân.

6.2.2. Cơ chế sinh bệnh

Bình thường khi thức ăn vào dạ cỏ, được các vi sinh vật dạ cỏ phân hủy sinh hơi và hơi được tống ra ngoài nhờ động tác ợ hơi và nhai lại. Tuy nhiên trong trường hợp thú ăn nhiều thức ăn dễ len men, lượng hơi tạo ra quá nhiều. Hay thức ăn chứa nhiều Saponin, nhiều nước khi nhai lại sẽ tạo các bọt khí, các bóng khí này trộn lẫn với thức ăn và rất chắc, không thoát được lên phần trên, làm thức ăn bị dâng lên cao trong dạ cỏ bít kín lỗ thượng vị.

Kèm theo sự giảm nhu động dạ cỏ, phản xạ ợ hơi không còn do thượng vị bị bít kín, hơi sinh ra không thoát ra được làm dạ cỏ căng phồng, ép tim, phổi, gây khó thở, ứ máu ở đầu và niêm mạc.

6.2.3. Nguyên nhân gây bệnh

- Bệnh phát ở nhiều loài nhai lại: trâu, bò, dê, cừu, do gia súc ăn nhiều những thức ăn dễ lên men, sinh hơi. Đặc biệt, gia súc hay mắc bệnh vào vụ đông xuân, vì vào mùa khô, gia súc chỉ ăn rơm, cỏ khô, thiếu thức ăn xanh nên hệ thống tiêu hóa, sức khỏe giảm. Đặc biệt, hệ vi sinh vật trong dạ cỏ chưa thích ứng với các thức ăn khác. Đầu mùa mưa, cỏ phát triển, gia súc ăn nhiều nhưng sức tiêu hóa kém, không thích hợp với hệ vi sinh vật trong dạ cỏ dẫn đến tiêu chảy, rối loạn hệ thống tiêu hóa gây ra các phản ứng lên men, sinh hơi nhiều gây chướng hơi dạ cỏ.

Những thức ăn dễ sinh hơi là cỏ xanh, cỏ non có chứa nhiều nước, chất nhầy; những thức ăn có chứa nhiều glucid như bã mía, cặn đường, thân cây bắp, ngọn mía; thức ăn có nhiều chất nhầy như dây khoai lang; thức ăn có nhiều protid thực vật như bã đậu; thức ăn mất phẩm chất bị mốc, hoặc gia súc ăn phải những thức ăn đang lên men dở, lúa ngập nước, cỏ úa; ăn phải cây có độc như lá sắn, lá xoan, măng tre hoặc các dạng thức ăn có chứa muối nitric bên trong như cây bắp cải trắng, lá lim.

- Bê, nghé, dê, cừu con mắc bệnh này thường do bú sữa không tiêu.

- Do chăn thả, lao động vào lúc giá rét, có nhiều sương muối.

- Do kế phát từ cảm nắng, bị què, bại liệt, ốm lâu ngày con vật không đi lại, nằm lì một chỗ.

- Kế phát từ bệnh tụ huyết trùng, lở mồm long móng, liệt dạ cỏ, dạ cỏ bội thực, viêm dạ tổ ong, viêm phúc mạc, tắc thực quản, viêm họng, … làm con vật không ợ được hơi.

6.2.4. Triệu chứng của bệnh

Bệnh mới phát con vật tỏ ra không yên, bồn chồn, bụng ngày càng phình to và có triệu chứng đau bụng. Vật luôn ngoảnh lại nhìn bụng, vẫy đuôi, cong lưng, 2 chân sau thu vào bụng.

- Vùng bụng trái chướng to, lõm hông trái (hình) căng phồng (gọi là mất lõm hông) có khi vươn cao hơn cột sống, bụng trái căng to lên, không đứng lên nằm xuống được, mõm đập vào chỗ phình bụng.

- Khi gõ có tiếng kêu rõ, ấn tay vào như quả bóng đầy hơi.

- Nghe vùng dạ cỏ thấy nhu động dạ cỏ lúc đầu tăng sau giảm dần rồi mất hẳn, chỉ nghe thấy tiếng nổ lép bép do thức ăn tiếp tục lên men.

- Bệnh càng nặng gia súc đau bụng càng rõ rệt, vã mồ hôi, uể oải, hay sợ hãi, con vật ngừng ăn, ngừng nhai lại.

- Gia súc khó thở, mũi nở rộng, cổ dương thẳng, mắt trợn trắng sợ sệt, có khi kêu la, tầng số hô hấp tăng, dạng 2 chân trước để thở, hoặc thè lưỡi để thở. Chân khụy, không đứng được nữa.

- Máu ở cổ không dồn được về tim, nên tĩnh mạch cổ phình to, tim đập nhanh (140/lần/phút), gia súc đi tiểu liên tục.

- Bệnh nặng gia súc chết do ngạt thở, liệt tim và trúng độc. Con vật có thể chết sau vài giờ hoặc vài ngày.

6.2.5. Chẩn đoán

- Chẩn đoán phân biệt bệnh chướng hơi dạ cỏ với bệnh bội thực dạ cỏ

6.2.6. Tiên lượng

- Bệnh xảy ra ở thể cấp tính rất nguy hiểm, nếu không kịp thời cứu chữa, gia súc chết nhanh. Nếu phát hiện và điều trị kịp thời, gia súc khỏi bệnh .

6.2.7. Điều trị

Nguyên tắc: phải tìm mọi biện pháp làm thoát hơi trong dạ cỏ, ức chế sự lên men, tăng cường nhu động dạ cỏ đồng thời chú ý trợ tim, trợ sức.

* Làm thoát hơi trong dạ cỏ:

- Dùng tay xoa bóp dạ cỏ nhiều lần, mỗi lần từ 10 – 15 phút, hoặc dùng rơm, hoặc giẻ bọc muối rang xát mạnh bên sườn, hông trái chà sát vùng lõm hông.

- Để gia súc đứng trên nền dốc (đầu cao) cho dễ thở, dội nước lạnh vào nửa thân sau, dùng tay kéo lưỡi nhịp nhàng để kích thích sự ợ hơi, thổi và xát bột bồ kết hoặc sát gừng già hoặc bôi ichthyol vào cuống lưỡi để kích thích sự ợ hơi.

- Tiêm Pilocarpin 1%: 10-15 ml/ bò.

* Thải trừ các chất chứa trong dạ cỏ:

- Bằng các thuốc tẩy: Cho uống 300-500 gam MgSO4 hay Na2SO4, hòa trong 2 lít nước.

- Có thể dùng nước lạnh thụt vào trực tràng và moi phân ở trực tràng.

- Tiêm Strychnal-B1 20ml/con.

* Dùng các thuốc ức chế sự lên men sinh hơi:

- Ichthyol 20-25 gam/con; Formol 10 - 15 ml và NH4OH 15ml/con;

- Rượu cồn tỏi (50gam tỏi bóc vỏ, giã nát hòa trong 300ml rượu/con); hoặc muối ăn 100 gam, tỏi 50 gam, gừng 30 gam giã nhuyễn và pha vào 2 lít nước cho uống 2 lần cách nhau 2-3 giờ.

- Cho uống nước lá thị sắc 500 - 1000ml;

- Nước dưa chua 3-5 lít

- Cho uống bia (3-5 lít), hoặc kết hợp trứng tươi: 3-5 lít bia đánh thêm 10-20 trứng vào.

- Cho uống Nabica (1viên/ 20 kg thể trọng) kết hợp Gastran (1gói/ 50-100 kg thể trọng)

- Dung dịch thuốc tím: 1gam/1 lít nước, uống 3-5 lít.

- Hoặc kết hợp theo công thức: Magnse sulphate    100 gam

                                             Muối ăn                50 gam

                                             Thuốc tím             2 gam

                                             Pha vào 2 lít nước cho uống 2 lần/ngày.

* Trợ sức, trợ lực cho vật: bằng Cafein natri benzoat 20%: 10-15 ml tiêm dưới da, hay Vime Canlamin: 1ml/ 5-10 kg thể trọng tiêm bắp hoặc tiêm mạch.

* Chọc trocart: Khi tất cả các biện pháp trên không được, thấy bò vẫn căng hơi có khả năng nguy hiểm (tử vong) ta phải dùng trocart, hoặc kim tiêm to, hoặc ống trúc chọc thẳng vào lõm hông trái (dạ cỏ), nơi căng nhất để tháo hơi trong dạ cỏ ra ngoài. Khi chọc dùng ngón tay bịt đầu lỗ lại, cho hơi ra từ từ đừng cho ra nhanh gây choáng, bò sẽ chết đột ngột. Khi hơi ra hết vẫn để nguyên trocart tại đó để cho hơi thoát ra đến khi bò khỏi hẳn.

Tiêm kháng sinh chống nhiễm trùng: Có thể dùng một trong các loại sau:

Lincoseptryl: 1ml/8-10kg thể trọng, ngày /lần, 3-5 ngày

+ hoặc Vimexysone COD: 1ml/10kg thể trọng , ngày /lần, 3-5 ngày

+ hoặc Penstrep suspen: 1ml/ 20 kg thể trọng, 48 giờ/liều, 2-3 liều

+ hoặc Amoxi 15 %: 1ml/ 10 kg thể trọng, 48 giờ/liều, 2-3 liều

* Chú ý:

(1) Khi gia súc bị chướng hơi cấp không được dùng Pilocarpin vì sẽ làm vỡ dạ cỏ hay làm gia súc tăng tiết nước bọt, con vật sẽ bị sặc.

(2) Cho hơi ra từ từ tránh gia súc bị sốc, chết do tụt máu não.

(3) Con vật có thể bị chướng hơi lại, nên cho vật nhịn ăn 1-2 ngày, sau đó cho ăn rơm, cỏ khô, không cho ăn thức ăn xanh.

6.2.8. Phòng bệnh

Bệnh chướng hơi dạ cỏ xảy ra nhiều vào đầu mùa mưa, vì vậy khi gia súc ăn nhiều cỏ non nên trộn thêm ít rơm khô. Không chăn thả sáng sớm, cỏ mới cắt nên để hơi héo mới cho ăn. Gia súc mới đẻ có chế độ ăn từ thấp đến cao; không cho bê, nghé, dê, cừu con bú sữa gia súc mẹ bị viêm vú, sữa vắt ra cho uống ngay không để lâu. Khi thay đối vùng chăn dắt từ nơi có thức ăn xấu, khô cằn sang nơi có thức ăn tốt nên chú ‎y bệnh chướng hơi dạ cỏ rất dễ phát sinh.

6.3. Bệnh cetone huyết

6.3.1. Đặc điểm của bệnh

Xeton huyết ở bò là bệnh đặc trưng rối loạn trao đổi protit, gluxit và chất béo kèm xuất hiện các triệu chứng tăng xeton huyết, xeton niệu, xeton sữa và giảm đường huyết. Xeton huyết là một trong những bệnh chiếm hàng đầu trong số các bệnh rối loạn trao đổi chất ở bò sữa. Người ta chia thành xeton huyết nguyên phát trên nền rối loạn trao đổi chất và xeton huyết thứ phát gặp trong các bệnh sản phụ khoa mạn tính (viêm vú, viêm tử cung…), bệnh dạ cỏ, gan, mất trương lực, viêm phúc mạc lưới và ngộ độc hôn mê.

6.3.2. Cơ chế sinh bệnh

Các quá trình trao đổi chất ở bò sữa xảy ra ở mức độ cao, do đó chúng cần ăn lượng lớn thức ăn. ở chúng trong mối liên quan đến điểm đặc biệt của trao đổi gluxit - lipid, nên nhu cầu rất cao về gluxit dễ tiêu hoá cần thiết cho hoạt động bình thường của hệ vi khuẩn dạ cỏ, chúng đáp ứng việc tổng hợp các axit béo bay hơi, axit amin, vitamin và các dưỡng chất khác. ở động vật nhai lại chỉ một lượng nhỏ gluxit ở dạng glucosa hấp thụ từ đường dạ dày ruột vào máu. Bởi vậy, ở những động vật này các axit béo bay hơi là nguyên liệu năng lượng chính và là nguồn hình thành lactosa, lipid sữa và glucosa có vai trò rất quan trọng. Lượng chính gluxit thức ăn ở trong dạ cỏ chuyển hoá thành các axit béo bay hơi (axetic, propionic, butiric).

Để duy trì quá trình trao đổi chất, nguồn dự trữ ổn định glucogen và hàm lượng glucosa trong máu ở cơ thể gia súc rất quan trọng. Nhu cầu về glucosa ở bò đang vắt sữa rất lớn. Động vật nhai lại tạo nguồn dự trữ glucosa và duy trì mức độ cân bằng nội môi glucosa ở trong máu do axit propionic nhận được từ dạ cỏ - là nguồn glucosa chủ yếu. Bởi vậy việc phá huỷ chế độ ăn, đặc biệt không đáp ứng tỷ lệ đường - protein trong khẩu phần hoặc không đáp ứng năng lượng tiêu hoá tổng số, là nguyên nhân tiềm ẩn sinh nhiễm axit, hạ đường huyết và xeton huyết. Thiếu hụt gluxit đi đôi với việc tăng sử dụng axit béo và một phần axit amin chuyển hoá đường và xeton để bù đắp nhu cầu năng lượng của cơ thể. Tuy nhiên, việc đốt cháy hoàn toàn chúng trong điều kiện tăng trao đổi chất có thể xảy ra trong trường hợp khi mà trong quá trình phân chia glucosa hình thành đủ lượng axit oxalic lactic. Chính axit oxalic lactic đảm bảo mối liên hệ giữa trao đổi gluxit và lipit thông qua vòng tricacbonic Crepc.

Khi cơ thể thiếu glucosa, trước hết ảnh hưởng đến hoạt động chức năng của não, vì rằng các tế bào thần kinh rất mẫn cảm với việc thiếu glucosa. Trong điều kiện lượng glucosa vào cơ thể thiếu, ở trong máu tích tụ một lượng rất lớn các thể xeton và các sản phẩm độc khác của trao đổi chất, do đó dẫn đến rối loạn hoạt động chức năng của não, kết quả bệnh súc bị kích thích hoặc hôn mê. 

Một vai trò không kém phần quan trọng trong việc sinh bệnh xeton huyết là rối loạn chức năng của gan, xảy ra do gan thiếu glucogen và bị loạn dưỡng mỡ. Nhưng mắt xích chủ đạo trong việc phát triển bệnh xeton huyết là rối loạn hệ thống thần kinh nội tiết - vùng dưới đồi - tuyến yên và vỏ tuyến thượng thận

6.3.3. Nguyên nhân gây bệnh

Có hai trường phái về căn nguyên gây bệnh xeton huyết. Trường phái thứ nhất cho rằng bệnh xảy ra do rối loạn quá trình trao đổi chất. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu giải thích rối loạn này là do trong cơ thể gia súc thiếu glucosa, một số khác cho rằng do chức năng của hệ thống vỏ tuyến yên - thượng thận yếu. Người ta chia các nguyên nhân thành nguyên phát và thứ phát. Các nguyên nhân của bệnh xeton huyết nguyên phát là: thức ăn thiếu lượng glucosa và các chất giảm sản (chất xơ, tinh bột), hoặc thừa lượng thức ăn có tác dụng như xeton; thức ăn thiếu chất và đơn điệu; cho ăn loại thức ăn trồng trên đất chua phèn, thức ăn đậm đặc nhưng thiếu lượng gluxit dễ tiêu hoá (tỷ lệ đường protein cao hơn 0,8 : 1), cho ăn liên tục thức ăn ủ chua chứa nhiều axit butiric và trên 30% axit axetic, cho ăn nhiều bỏng rượi, bã bia chứa nhiều axit butiric…   

Các nguyên nhân thứ phát là: thiếu vận động tích cực, đèn hồng ngoại thiếu và vi phạm điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng. Đặc biệt nuôi nhốt bò sữa cao sản trong điều kiện bị stress nhiều dẫn đến tăng xeton huyết. Nguồn glucosa chính ở động vật nhai lại là axit propionic (là chất kháng xeton), vi rằng ở trong dạ cỏ của chúng chất gluxit thức ăn chuyển thành các axit béo bay hơi. Lượng axit propionic hình thành trong dạ cỏ phụ thuộc vào chất lượng và số lượng thức ăn có trong khẩu phần và hoạt lực men của hệ vi khuẩn dạ cỏ. Khẩu phần chứa nhiều thức ăn đậm đặc và nghèo gluxit dễ tiêu hoá, cũng như khẩu phần thừa thức ăm đậm đặc hoặc thức ăn ủ chua chứa axit butiric, ảnh hưởng xấu đến hoạt lực men của hệ vi khuẩn dạ cỏ và trao đổi chất. Khi cho gia súc ăn những loại thức ăn như thế ở trong dạ cỏ của chúng giảm hàm lượng axit propionic và axit axetic và tăng nồng độ axit butiric (sinh xeton) và axit lactic, do đó pH dạ cỏ giảm xuống. Những biến đổi sinh hoá trong dạ cỏ làm rối loạn quá trình tiêu hoá và trao đổi chất. Trong những điều kiện như vậy, khi thiếu gluxit - là nguồn năng lượng chính - gia súc bổ sung nhu cầu năng lượng thiếu bằng chính mỡ của mình. Tuy nhiên, việc sử dụng nó trong khi thiếu lượng gluxit gắn liền với tích tụ một lượng lớn các chất xeton và giảm đường glucosa trong cơ thể. 

Một số nhà nghiên cứu xem xeton huyết như là một bệnh thích ứng hình thành bởi rối loạn chức năng hệ thống tuyến yên - thượng thận do căng thẳng không bình thường (stress).

6.3.4. Triệu chứng của bệnh

        Biểu hiện hội chứng rối loạn chức năng dạ dày, ruột, gan, hệ tim mạch và thần kinh nội tiết của bệnh súc.Trong tất cả các trường hợp xeton huyết, bệnh súc đều bị viêm dạ dày, đặc trưng giảm hoặc thay đổi khẩu vị. Bệnh súc ngừng ăn thức ăn đậm đặc, nhưng thích ăn thức ăn thô, khẩu vị thay đổi, rối loạn nhịp nhai lại, ợ hơi và chuyển động dạ cỏ chậm lại và táo bón, đôi khi bị tiêu chảy. Quá trình sinh hoá trong dạ cỏ bị thay đổi.

Đối với bệnh xeton huyết đặc trưng là hội chứng gan. ở tất cả các bệnh súc thấy gan đau và sưng, hoàng đản niêm mạc, indican nước tiểu tăng, urobilin nước tiểu dương tính, tổng hợp axit hippuric giảm và phản ứng thể keo máu dương tính, điều đó chứng tỏ rối loạn tổng hợp protein.

     Hội chứng thần kinh vào giai đoạn đầu của bệnh biểu hiện tăng kích thích và thay đổi hành vi của bệnh súc. Chúng bị kích thích, tăng cảm giác da vùng cổ, lồng ngực và vùng thắt lưng. Bệnh súc nếu không bị buộc sẽ đi vòng tròn hoặc tiến về phía trước không chú ý đến các vật cản. ở một số bò sữa, cơn kích thích mạnh đến nỗi giống như bị điên. Kích thích xuất hiện theo cơn kéo dài 1 - 2 giờ với khoảng cách giữa hai cơn là 8 - 12 giờ. Nó thay đổi từ trạng thái lờ đờ đến hôn mê giống lâm sàng bại liệt sau đẻ. Có thể quan sát thấy co giật cứng các cơ bụng, run một số nhóm cơ riêng biệt, nghiến răng, rối loạn nhịp thở và rối loạn chuyển động. Rối loạn hoạt động hệ tim mạch.
     Đái ít do ăn ít và uống ít. Nước tiểu trong, sáng vàng, có mùi xeton nặng, tỷ trọng thấp, phản ứng axit, chứng tỏ gia súc bị nhiễm axit. Nước tiểu có axeton là một trong những triệu chứng đặc trưng và thường xuyên của bệnh xeton huyết.
     Ngay từ những ngày đầu tiên bị bệnh, sản lượng của bò sữa đã giảm. Tuy nhiên, giảm tiết sữa hoàn toàn không xảy ra, mặc dầu ở một số bò xeton huyết rất rõ ràng, nhưng sản lượng sữa vẫn cao. Sữa chứa lượng lớn axeton, nên có thể xác định theo mùi và các phản ứng đặc biệt.

Bệnh súc gầy nhanh. Rối loạn chu kỳ sinh dục - là triệu chứng quan sát thấy của biến chứng của các bệnh sau đẻ (sát nhau, viêm vú, viêm tử cung). Bê con của bò bị xeton huyết yếu.

Ngoài ra, các chỉ số về huyết học, trao đổi gluxit - lipit, đường, thành phần protein máu...đều bị thay đổi.

6.3.5. Chẩn đoán

Một số bệnh có triệu chứng giống bệnh xeton huyết. Giai đoạn kích thích giống bò đang bị bệnh điên; giai đoạn hôn mê giống bò bị bại liệt sau đẻ; các triệu chứng viêm dạ dày giống bò bị bệnh viêm dạ dày...Do đó cần phân tích nhiều khía cạnh để xác định chính xác bệnh xeton huyết ở bò.
     Để chẩn đoán bệnh, cần nghiên cứu hàm lượng axeton trong sữa. Trong sữa bò khoẻ, hàm lượng axeton thấp (1,4 - 3,6 mg%). Chẩn đoán dương tính khi lượng axeton trong sữa cao hơn 5 mg% (+), khi hàm lượng 20% sữa có màu tím thẫm (++++), thêm vào đó các thể axeton trong sữa chỉ phát hiện được trong bệnh xeton huyết nguyên phát.

Nếu kiểm tra nước tiểu thì cho kết quả dương tính ở phần lớn bò sữa cao sản, cho nên có thể cho kết quả sai.

6.3.6. Tiên lượng

- Bệnh thường ở thể mãn tính, kéo dài trong vài tuần.Nếu gia súc nằm lì, chữa không kịp thời tiên lượng xấu.

6.3.7. Điều trị

Ngày nay người ta áp dụng điều trị tổng hợp, bao gồm chế độ ăn kiêng, liệu pháp glucosa, liệu pháp hocmon, liệu pháp kháng axeton, cho vận động.
     - Phụ thuộc vào trạng thái bệnh súc, giảm dinh dưỡng tổng số trong khẩu phần xuống 20 - 50%. Lượng thức ăn đậm đặc trong khẩu phần không vượt quá 150 - 200g/kg sữa. Trong thức ăn đậm đặc dùng bột ngô.
     - Khẩu phần cân đối về đường - protein theo tỷ lệ 1 : 1 đến 1 : 1,5.
     - Trong khẩu phần thức ăn ở vùng nghèo coban, bổ sung clorua hoặc sulphat coban với liều 15 - 30mg/ngày. Theo mức độ khoẻ dần lên và ăn tốt lên của bệnh súc, cho ăn tăng dần lượng thức ăn.

- Một trong những biện pháp tốt là cho bệnh súc vận động. Vì rằng khi vận động tích cực sẽ nhanh chóng phục hồi các quá trình oxy hoá khử và tăng sử dụng các thể xeton của cơ.

 - Liệu pháp glucosa thực hiện bằng cách tiêm ven dung dịch glucosa 5 - 10%, 1 - 2 lần/ngày, liên tục 2 - 3 ngày với liều 25 - 50g/100kgP. Tuyệt đối không được tiêm ven cho bò vitamin B1.

 - Cho bò ăn propionat natri dưới dạng thức ăn bổ sung hoặc cho uống với liều 110 - 120g/ngày, liên tục 8 - 10 ngày.

- Tiêm bắp Cortison với liều 0,08 - 0,13 đơn vị/kgP/lần, nếu cần tiêm nhắc lại sau 3 - 4 ngày.

- Điều trị theo triệu chứng, như tiêm an thần khi bị kích thích, trợ tim khi hôn mê...

6.3.8. Phòng bệnh

Loại trừ các nguyên nhân kể trên. Đảm bảo chế độ chăm sóc nuôi dưỡng tốt, đặc biệt đối với bò sữa cao sản.

6.4. Bệnh cảm nắng

6.4.1. Đặc điểm của bệnh

Bệnh thường xảy ra vào mùa nắng, gia súc vì nhiều lý do phải ở ngoài nắng trong một thời gian dài, tia hồng ngoại chiếu vào vùng đầu, gây nên trạng thái xung huyết não và màng não, có thể làm thú chết rất nhanh

6.4.2. Cơ chế sinh bệnh

Do ánh nắng chiếu trực tiếp vào đỉnh đầu làm nhiệt độ ở vùng đầu tăng cao trong thời gian dài ngây xung huyết não và màng não; gây tổn thương đến tế bào thần kinh, từ đó gây ảnh hưởng tới trung khu tuần hoàn, hô hấp và điều hoà thân nhiệt làm cho con vật chết rất nhanh.

6.4.3. Nguyên nhân gây bệnh

-Cho gia súc làm việc liên tục nhiều giờ dưới trời nắng gắt, nhất là thời điểm từ 11 giờ trưa đến 2-3 giờ chiều.

-Nhốt tập trung gia súc ngoài trời nắng, không có bóng cây.

-Vận chuyển trên các toa tầu, xe không có mái che.

6.4.4. Triệu chứng của bệnh

- Bệnh phát ra đột ngột khi thú đang ở ngoài nắng, thú ngây ngất, chân đi lảo đảo, niêm mạc tím bầm.

- Một thời gian ngắn sau đó, do thần kinh bị kích thích làm xuất hiện thêm các triệu chứng thần kinh như thú lồng lộn lên hoặc rất sợ hãi, 2 mắt lồi lên, đỏ ngầu. Mạch nhanh và yếu, thú thở rất khó khăn.

- Trước khi chết, thú té ngã, đồng tử thu hẹp, mất hẳn các phản xạ toàn thân, co giật rồi chết.

6.4.5. Chẩn đoán

- Bệnh thường xảy ra cấp tính, con vật chết nhanh không kịp điều trị.

- Khi chẩn đoán cần phân biệt với bệnh cảm nóng và so sánh với bệnh truyễn nhiễm cấp tính, các bệnh về phổi cấp tính.

6.4.6. Tiên lượng

3

Bệnh xuất hiện và diễn biến rất nhanh, tuy nhiên được cứu chữa kịp thời thú sẽ khỏi nhanh, trong trường hợp bị thủy thủng hoặc xuất huyết  thường thú sẽ chết. thú có thể chết sau khi phát bệnh vài ba giờ, cũng có thể chết sau đó vài   ba ngày.

6.4.7. Điều trị

Đầu tiên phải nhanh chóng đưa thú vào chỗ mát, nếu thú quá nặng, té ngã không đi được phải tạo ngay bóng mát tại chỗ cho thú. Nếu đang lúc vận chuyển phải dừng xe, đưa ngay vào chỗ mát.

-Dùng nước dội mát toàn thân cho thú, đầu tiên là dội vùng đầu, dội nhiều lần cho nhiệt độ hạ thấp dần, sau đó mới dội nước lên vùng thân.

- Nếu có điều kiện, dùng nước đá chườm vùng đầu cho thú.

- Sử dụng thuốc trợ tim và trợ hô hấp cho thú như cafein, camphorate.

- Cho uống ANALGINE+C (bột) hoặc tiêm ANALGINE+C (dung dịch tiêm) để giải nhiệt.

- Tiêm truyền SG.GLUCOSE 5% vào tĩnh mạch.

- Có thể tiến hành trích bớt máu, nếu có hiện tượng phù phổi, thú thở quá khó khăn.

- Tiêm SG.VITAMIN C-2000, ngày 2 lần.

- Các ngày sau đó tùy theo sự phục hồi của cơ thể chúng ta sẽ quyết định giảm bớt các loại thuốc dùng cho thú. Nếu thú đi lại được, ăn uống được, chỉ cần dùng SG.VITAMIN C-2000 và cho thú nghỉ ngơi. Tiếp tục như vậy cho đến khi thú khỏe hoàn toàn. Đối với thú làm việc, nên cho thú nghỉ ngơi thêm 4-5 ngày mới cho làm việc trở lại.

6.4.8. Phòng bệnh

Vào mùa nắng nên có chế độ quản lý thích hợp về giờ giấc cho thú làm việc, giờ giấc tập trung và vận chuyển thú.

- Nếu bắt buộc phải cho thú làm việc ngoài nắng, không nên ở lâu ngoài nắng, thỉnh thoảng phải cho thú vào chỗ mát nghỉ ngơi.

- Khi thấy thú có dấu hiệu mệt phải cho nghỉ ngay.

6.5. Bệnh cảm nóng

6.5.1. Đặc điểm của bệnh

Bệnh xảy ra khi khí hậu nóng khô hoặc ẩm ướt, làm cho quá trình trao đổi nhiệt của cơ thể và môi trường bên ngoài khó, làm rối loạn trung khu điều hòa thân nhiệt. Bệnh thường phát ra cùng với cảm nắng

6.5.2. Cơ chế sinh bệnh

.Sự gia tăng thân nhiệt cao hơn so với sức chịu đựng của gia súc và sự mất nước  nặng là hai yếu tố chính của bệnh cảm nóng.

Nhiệt độ môi trường tăng cao, tăng thân nhiệt, thú gia tăng hô hấp để thoát nhiệt dẫn đến giảm hàm lượng acid carbonic trong máu, máu trở nên kiềm, hồng cầu bị phá vỡ, tạo stress do đó bệnh này còn gọi là stress nhiệt.
Trường hợp nhiệt độ môi trường tăng cao mà gia súc lại thiếu nước uống, cơ thể gia súc không thể thoát nhiệt, thân nhiệt tăng cao vượt ngưỡng chịu đựng của hệ thần kinh, hệ thần kinh bị kích thích trong giai đoạn đầu sau đó vài giờ thần kinh sẽ rơi vào trạng thái ức chế, thú không thể thở, tim đập yếu rồi chết (còn gọi là hiện tượng shock nhiệt)

6.5.3. Nguyên nhân gây bệnh

Khi nhiệt độ trong chuồng trại, trong toa xe vận chuyển thú quá nóng, nhất là lúc ẩm độ của không khí cao, sự thải nhiệt không hữu hiệu làm tăng thân nhiệt thú.
- Do thú phải vận động, làm việc trong điều kiện nhiệt độ môi trường nóng, thiếu cung cấp nước uống hoặc nước quá nóng làm thú uống ít nước

6.5.4. Triệu chứng của bệnh

Bệnh thường xuất hiện khá đột ngột, có thể trên nhiều con trong bầy, hoặc chỉ một vài con. Thường những con thú mệt mỏi, thú đang nhiễm bệnh dễ mẫn cảm với bệnh này hơn.

- Hiện tượng stress nhiệt: thú ăn yếu, thở nhiều, uống nhiều nước, dể nẫm cảm với các bệnh thông thường, năng suất giảm, đẻ non, sảy thai.

- Hiện tượng shock nhiệt:

• Triệu chứng đầu tiên là thú tỏ ra rất mệt mỏi, nằm một chỗ, nhịp thở tăng rất nhanh và thở cạn.

• Toàn thân thú đỏ ửng (có thể nhìn thấy trên heo lông trắng, niêm mạc xung huyết).

• Thân nhiệt tăng lên rất cao, có thể lên hơn 41 độ C.

• Tim đập rất nhanh, mạch lặn.

Các triệu chứng trên kéo dài từ 30 – 60 phút, nếu không có biện pháp chữa trị và nhiệt độ môi trường vẫn cao thì tình trạng bệnh sẽ nặng thêm với các biểu hiện sau:

• Thú thở khó, mũi banh ra để thở, tần số hô hấp rất cao.

• Tim đập yếu mạch chìm do máu bị cô đặc.

• Niêm mạc trở nên tím tái

.• Cơ nhai co giật.

• Đối với heo có thêm triệu chứng nôn mữa.

• Thú nằm liệt, sau cùng các cơ co giật, đồng tử mở rộng, hôn mê rồi chết.

• Khi chết có triệu chứng sùi bột mép, có khi lẫn máu.

6.5.5. Chẩn đoán

Cần phân biệt cảm nóng với cảm nắng. Ở bệnh cảm nắng, nhiều khi thân nhiệt không tăng quá cao, còn ở bệnh cảm nóng triệu chứng thần kinh không mạnh mẽ bằng bệnh cảm nắng.

6.6. Trúng độc carbamide

6.6.1. Đặc điểm của bệnh

Trúng độc carbamid là hiện tượng trúng độc do gia súc ăn thức ăn có bổ sung protein bằng những chất có chứa nitơ. Hiện tượng trúng độc này chủ yếu xảy ra ở loài nhai lại. 

6.6.2. Cơ chế sinh bệnh

Bản thân carbamid là chất không độc, trong dạ cỏ dới sự tác động của vi sinh vật chứa nhiều men ureaza, carbamid sẽ biến thành NH3 và các loại vi khuẩn cố định đạm sống trong dạ cỏ sẽ sử dụng NH3 để tạo protein cho bản thân chúng. Nếu lượng NH3 sinh ra nhiều trong thời gian ngắn thì vi khuẩn cố định đạm không sử dụng hết, NH3 đi vào trong máu làm tăng độ pH của máu, ion amonium đi vào trong tế bào làm tăng nhạy cảm phản ứng của tế bào cơ thể bị trúng độc. 

6.6.3. Nguyên nhân gây bệnh

- Do trộn nhiều thức ăn bổ sung có chứa nitơ vào thức ăn. 

- Do cho ăn carbamid ở dạng ướt hoặc dạng dung dịch

- Do thức ăn thiếu glucoza trong thời gian bổ sung carbamid. 

- Khi cho gia súc ăn thức ăn mới mà không có thời kỳ tập ăn, hoặc thời kỳ này quá ngắn.

6.6.4. Triệu chứng của bệnh

1. Thể quá cấp tính.

Con vật nôn mửa, tiêu chảy, cơ run, con vật chết sau 1-2 ngày.

2. Thể cấp tính.

 Triệu chứng xuất hiện sau 3-4 ngày. Con vật vận động miễn cưỡng, điếc, mù, ăn uống kém. Con vật rúc đầu xuống nền chuồng, nghiến răng, cơ đầu và cổ co giật, cơn co giật kéo dài tới vài phút. Sau một thời gian con vật trở lại yên tĩnh, rồi lại tiếp tục đến chu kỳ sau. Thân nhiệt cao hơn bình thờng (do con vật giy giụa). ở thể này qua vài ngày con vật có thể khỏi. Tỷ lệ chết 30-40%. 

6.6.5. Chẩn đoán

Chất chứa trong dạ cỏ có mùi amoniac, độ pH của dạ cỏ cao (8,5-9,0) Cần xác định nồng độ NH3 trong chất chứa của dạ cỏ, trong gan, thận bằng các xét nghiệm. 

6.6.6. Tiên lượng

Tiên  lượng của bệnh do ngộ độc được xác định dựa  trên mức độ nặng nhẹ của bệnh, bản chất và liều lượng chất độc cũng như khả năng trung hòa, đào thải chất độc khỏi cơ thể.

- Trong các triệu chứng về thần kinh, triệu chứng kích thích thần kinh được coi là có tiên lượng tốt hơn là trạng thái trầm uất. Xấu nhất là triệu chứng bại liệt, thường dẫn đến chết.

Co giật không phải lúc nào cũng có tiên lượng xấu. 

- Bản chất của chất độc có ý nghĩa trong việc đánh giá tiên lượng. Loài vật ăn cỏ khi bị ngộ độc độc  tố  thực vật  thường có  tiên  lượng  tốt hơn ngộ độc các chất độc có nguồn gốc khoáng  hoặc  tổng  hợp,  do  khó  xác  định  được  lượng  các  chất  này  đã  hấp  thu  vào máu  và chúng thường được chậm thải trừ ra khỏi cơ thể (ví dụ, asen, chì, thủy ngân...)

6.6.7. Điều trị

Nguyên tắc: Phải can thiệp sớm và tiến hành theo các bước giải độc nhanh 

1. Hộ lý Để gia súc ở nơi yên tĩnh với tư thế đầu cao đuôi thấp, tháo hơi dạ cỏ, thụt rửa dạ dày. 

2. Dùng thuốc điều trị:

 a/. Dùng thuốc tẩy trừ chất chứa trong dạ dày (dùng MgSO4). 

b/. Dùng thuốc để trung hòa lượng kiềm trong dạ dày: cho uống dấm pha loãng (1-3 lít). 

c/. Bổ sung đường để tăng đường huyết: Dùng dung dịch đường 30-40% tiêm chậm vào tĩnh mạch. 

d/. Dùng thuốc để giảm co giật và bền vững thành mạch: Dùng axit glutamicpha vào dung dịch đường glucoza. 

e/. Dùng thuốc an thần: Aminazin, Prozin, 

f/. Dùng thuốc ức chế sự lên men sinh hơi trong dạ cỏ. 

6.6.8. Phòng bệnh

Khi bổ sung carbamid vào khẩu phần ăn phải tăng thêm lượng đường trong 
khẩu phần. 
- Không cho gia súc ăn quá liều quy định (trâu bò không quá 100 g/ngày, bê nghé không quá 50 g/ngày). 
- Khi cho ăn xong không được cho gia súc uống nước ngay. 

6.7. Bệnh liệt dạ cỏ

6.7.1. Đặc điểm của bệnh

Bệnh làm cho dạ cỏ co bóp kém và dẫn đến liệt, làm thức ăn trong dạ cỏ, dạ múi khế không xáo trộn được và tống về phía sau.

Thức ăn trong dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ múi khế bị tích tụ lâu ngày bị thối rữa sinh ra chất độc, làm cơ thể bị trúng độc và ảnh hưởng đến hệ thần kinh thực vật. Kết quả làm trở ngại cơ năng vận động dạ cỏ, làm gia súc giảm nhai lại, giảm ăn, thường kế phát viêm ruột và cuối cùng dẫn đến chết.

6.7.2. Cơ chế sinh bệnh

Các tác động bệnh lý làm trở ngại hoạt động thần kinh trung ương, thần kinh thực vật rồi ảnh hưởng hoạt động tiền vị làm cơ dạ cỏ giảm nhu động dẫn đến liệt.

Khi dạ cỏ bị liệt, thức ăn tích lại trong dạ cỏ, dạ lá sách lên men thối rữa và sinh ra chất độc rồi thấm vào máu gây ảnh hưởng tiêu hóa và toàn thân con vật (do những sản phẩm phân giải từ dạ cỏ hấp thụ vào máu, ảnh hưởng chức năng giải độc của gan, lượng glycogen trong gan giảm dần dẫn tới hiện tượng cetone huyết, lượng kiềm trong máu giảm dẫn tới trúng độc toan. Đồng thời thức ăn lên men, các sản phẩm sinh ra kích thích vách dạ dày gây ra viêm hoại tử ở dạ dày, viêm cata ở dạ múi khế và ruột, bệnh trở nặng thêm)

Do quá trình lên men đã làm thay đổi pH của  dạ cỏ từ kiềm yếu sang toan gây bất lợi cho sự sống của các vi sinh vật phân giải cellulose và infusoria trong dạ cỏ. Mặt khác những vi sinh vật dạ cỏ còn kích thích tới sự cảm thụ hóa  học ở vách dạ dày nên sinh ra những cơn co giật ở dạ dày. Những dịch lỏng trong dạ dày chảy xuống dạ múi khế và ruột ảnh hưởng đến nhu động của dạ dày và ruột làm cho dạ lá sách căng to ( do thức ăn chưa được làm mềm, theo thể dịch tràn vào dạ lá sách).

Những kích thích bệnh liên tục truyền đến hệ thần kinh trung ương, làm tế bào thần kinh mệt mỏi, con vật bị rơi vào trạng thái ức chế.

6.7.3. Nguyên nhân gây bệnh

Do cơ thể gia súc suy nhược, phần lớn bệnh lâu ngày, thú gầy yếu, dạ cỏ hoạt động yếu.

Bò sữa ăn nhiều thức ăn tinh, thiếu chất xơ hoặc do thức ăn xay nghiền quá nhỏ không kích thích được các đầu mút thần kinh ở niêm mạc dạ cỏ làm dạ cỏ kém nhu động lâu ngày dẫn đến liệt.

Thú ăn phải thức ăn có tính kích thích cao độ như thức  ăn cũ, mốc, lên men, thức ăn có lẫn chất độc.

Thú làm việc quá sức hoặc chế độ làm việc không hợp lý như là lâu ngày không làm việc nhưng đến khi làm lại bị buộc phải làm quá sức.

 

6.7.4. Triệu chứng của bệnh

Thể cấp tính

Con vật giảm ăn, thích thức ăn thô hơn thức ăn tinh, khát nước, nhai lại giảm hoặc ngừng hẳn, nhu động dạ cỏ kém hoặc mất. Con vật hay ợ hơi, hơi có mùi hôi thối. Thú thích nằm, mệt mỏi, niêm mạc miệng khô.

Sờ nắn vùng vùng dạ cỏ qua trực tràng thấy thức ăn như cháo đặc, vùng bụng trái sưng to, con vật khó thở.

-      Phân lỏng lẫn chất nhầy, khi kế phát viêm ruột thì phân loãng và thối. Nếu bệnh nặng con vật lên cơn co giật và cuối cùng chết.

Thể mãn tính

Thú ăn uống thất thường, nhai lại giảm, ợ hơi giảm, dạ cỏ giảm nhu động nên thường chướng hơi nhẹ, phân lúc táo lúc lỏng, trường hợp không kế phát bệnh khác thì không sốt. Cơ thể thú suy nhược dần rồi chết.

 

6.7.5. Chẩn đoán

Để chẩn đoán bệnh liệt dạ cỏ cần dựa vào kết quả điều tra tổng thể (có vi phạm kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng không?) và các triệu chứng lâm sàng đặc trưng như bệnh súc giảm ăn, giảm nhai lại, nhu động dạ cỏ giảm hoặc ngừng hẵn, thỉnh thoảng chướng hơi, lúc đầu đi táo, sau tiêu chảy.
Cần chẩn đoán phân biệt với bệnh viêm bao tim do ngoại vật, chướng hơi dạ cỏ, tắc thực quản do ngoại vật và bệnh dạ cỏ bội thực. Trong bệnh viêm bao tim do ngoại vật khi dùng cùi tay đẩy ngược xương ức vùng tim hoặc bóp dồn da giữa sống lưng bệnh súc biểu hiện đau (cong người xuống).
Khi bị trướng hơi dạ cỏ hông đói trái của bệnh súc cũng căng đầy như bị liệt dạ cỏ do căng đầy thức ăn, điểm khác biệt dạ cỏ căng do hơi nên gõ nghe âm vang, thăm khám qua trực tràng không thấy thức ăn đặc.
Tắc thực quản do ngoại vật xảy ra đột ngột, bệnh súc không yên tĩnh, chạy lồng lên, bỏ ăn, đầu thường thỏng xuống, cổ vươn dài lúc lắc, ngừng ợ hơi và ngừng nhai lại, chảy nước dãi ngày càng nhiều, liên tục nhai lại và nuốt. Nếu không giải phóng ngoại vật khỏi thực quản, chỉ 1 - 2 giờ sau xuất hiện trướng hơi dạ cỏ cấp tính, bệnh súc chết do trụy tim mạch và suy hô hấp.
Trường hợp liệt dạ cỏ do cho ăn thức ăn đơn điệu thấy hõm hông trái lép, bụng như sệ xuống, còn liệt dạ cỏ do cho ăn quá no gây giãn thành dạ cỏ thấy hông đói căng, vật bệnh không yên tĩnh, hay đạp hai chân sau và quất đuôi vào thành bụng, gõ nghe âm tù, về cuối vật bệnh ngã khụy xuống nằm đầu ngẫng lên giống tư thế bò liệt sau đẻ.

Đây là bệnh điều trị được nhưng can thiệp càng sớm hiệu quả càng cao.
Điều trị nhằm mục đích khôi phục nhu động và tiết dịch của dạ cỏ, khôi phục hệ vi khuẩn trong dạ cỏ, loại bỏ quá trình gây thối rữa và các độc tố để bệnh súc ăn và nhai lại đươc. Nếu bệnh đã kéo dài trên 10 ngày kết quả điều trị thấp

6.7.6. Tiên lượng

Bệnh mới phát sau 3-5 ngày điều trị con vật bình phục trở lại. Bệnh ở thể mãn tính tiên lượng xấu.

6.7.7. Điều trị

Nguyên tắc: tăng nhu động dạ cỏ và làm giảm chất chứa.

Khi mới mắc, cho gia súc nhịn ăn 1-2 ngày, không hạn chế nước uống, sau đó cho ăn thức ăn dễ tiêu, cho ăn ít và chia làm nhiều lần trong ngày.

Xoa bóp vùng dạ cỏ và cho gia súc vận động nhẹ. Trường hợp gia súc đau nhiều không nên xoa bóp.

Dùng thuốc làm tăng cường nhu động dạ cỏ như MgSO4 300gr cho 1 trâu bò lớn, chích Pilocarpin 3% 3-6 ml/ con, hoăc dung dịch NaCl 10% 200ml/ ngày (IV).

6.7.8. Phòng bệnh.

- Để phòng bệnh kế phát trở lại, sau khi điều trị khỏi phải cho trâu bò ăn thức ăn xanh dễ tiêu, cho ăn nhiều lần/ngày trong tuần đầu khỏi bệnh.

6.8. Bệnh viêm phổi

6.8.1. Đặc điểm của bệnh

Bệnh xảy ra chủ yếu ở bê non dưới 1 năm tuổi mắc bệnh với tỷ lệ cao và nặng hơn ở bò trưởng thành. Thường gặp lúc thời tiết chuyển sang mùa lạnh với các biểu hiện như: Con vật mệt mỏi, ăn kém và sốt cao, thường 40-42oC, sốt liên tục, vật bệnh chảy nước mắt, nước mũi liên tục và thở khó khăn tăng dần. Vật bệnh ho khạc từng cơn. Những cơn ho này xảy ra nhiều vào đêm khuya và sáng sớm

6.8.2. Cơ chế sinh bệnh.

.         Tác nhân gây bệnh vào phổi thường là qua đường thở (không khí, vi khuẩn ở đường hô hấp trên) bị hút xuống, gặp điều kiện môi trường thuận lợi, sức đề kháng của cơ thể kém hoặc do độc lực vi khuẩn mạnh... Hoặc tác nhân gây bệnh ở các cơ quan lân cận như màng phổi, màng tim, gan... hay đến qua đường máu, bạch mạch và ngược lại từ phổi có thể đến cơ quan lân cận và vào máu gây nhiễm trùng huyết

6.8.3. Nguyên nhân gây bệnh

         Bệnh viêm phổi là bệnh thường xẩy ra trên bò sữa, đặc biệt là ở bê dưới 1 năm tuổi bệnh thường xẩy ra nặng hơn so với bò trưởng thành. Bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là do: Haemophilus, Mycoplasma, Staphylococcus, Streptococcus và Pasteurella.

          - Ở miền Bắc bệnh thường xẩy ra trong giai đoạn chuyển mùa từ thu sang đông hoặc đầu xuân. Ở miền Nam bệnh thường xuất hiện lúc chuyển từ mùa nắng sang mùa mưa và cả trong mùa mưa.

6.8.4. Triệu chứng của bệnh

Thời gian nung bệnh thường từ 3 - 7 ngày. Sau thời gian nung bệnh, vật bệnh thể hiện các dấu hiệu lâm sàng đặc trưng của bệnh viêm phổi.
- Con vật sốt cao 40- 420 C, miệt mỏi, ủ rũ, bỏ ăn, chảy nước dãi, nước mũi lẫn mủ, ho và khó thở, thở nhanh nhưng nông. Ở bò sữa, sản lượng sữa giảm. Bê con bị bệnh nằm một chỗ, ngóc cổ thở mạnh, nhanh và khó khăn. Con vật ho khạc từng cơn, rõ nhất vào đêm khuya và sáng sớm. Bê non thường kế phát tiêu chảy, trong trường hợp này bê thường chết nhanh, tỷ lệ chết có thể lên 60-70% số ca bệnh.

6.8.5. Chẩn đoán

Chẩn đoán lâm sàng.

Vật bệnh có các dấu hiệu: sốt cao kéo dài, thở khó và ho.

6.8.6. Tiên lượng

Tùy theo nguyên nhân gây bệnh, sức đề kháng của con vật, nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời dễ hồi phục, tiên lượng tốt. Để lâu tiên lượng xấu

6.8.7. Điều trị

Căn cứ vào các kết quả chẩn đoán nguyên nhân bệnh để xây dựng các phác đồ thích hợp điều trị cho vật bị bệnh.


Phác đồ 1
Viêm phổi do nhiễm khuẩn.
- Thuốc điều trị: Phối hợp kháng sinh và Sulfamid.
+ Penixillin G hoặc Ampixillin liều dùng: 20.000 UI/kg thể trọng/ngày.
+ Kanamycin hoặc Streptomycin dùng liều 20mg/kg thể trọng/ngày.
+ Sulfadimezin dùng liều 30-40 mg/kg thể trọng/ngày.
Dùng phối hợp ba loại thuốc liên tục 4-6 ngày.
Kháng sinh tiêm, Sulfamid cho uống hoặc dùng dạng tiêm.
- Thuốc chữa triệu chứng.
Chống khó thở: Ephedrin - 1ml/ống tiêm.
Liều dùng: 1 ống/20 kg thể trọng/ngày. Không có Ephedrin thay bằng Diaphillin.
- Thuốc trợ sức.
Dùng vitamin B1, Vitamin C.
Dùng long não nước hoặc Cafein.
Súc vật ít ăn cần truyền tĩnh mạch huyết thanh mặn ngọt đẳng trương 1.000 ml/100 kg thể trọng/ngày.
- Chăm sóc: Nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Chuồng che kín ấm mùa đông và thoáng sạch mùa hè.


Phác đồ 2
Viêm phổi do nhiễm nấm (Aspergillus, Candida...) và nhiễm khuẩn kế phát.
- Thuốc điều trị: Phối hợp kháng sinh.
+ Ampixillin dùng liều 20.000 đơn vị/kg thể trọng/ngày.
+ Kanamycin dùng liều 20 mg/kg thể trọng/ngày.
+ Nystatin, dùng liều 20 mg/kg thể trọng/ngày.
Dùng phối hợp ba loại thuốc liên tục 4-5 ngày kháng sinh tiêm. Nystatin có thể uống hoặc tiêm.
- Thuốc điều trị triệu chứng: như phác đồ 1.
- Thuốc trợ sức: như phác đồ 1.
- Chăm sóc: như phác đồ 1.


Phác đồ 3
Viêm khuẩn do giun phổi (Dictyo-caulus) và nhiễm khuẩn kế phát.


- Thuốc điều trị.
+ Tẩy giun phổi: Tetramisol hoặc Levamisol theo liều 7 mg/kg thể trọng/lần. Thuốc cho uống sau khi ăn. Chỉ dùng một liều. Sau đó 2-3 tuần lại dùng liều 2.
+ Vi khuẩn kế phát.
Ampixillin dùng liều 20.000 đơn vị/kg thể trọng/ngày.
Kanamycin dùng liều 20 mg/kg thể trọng/ngày.
Dùng phối hợp liên tục 4-5 ngày.
- Điều trị triệu chứng: như phác đồ 1.

- Thuốc trợ sức: như phác đồ 1.
- Chăm sóc: như phác đồ 1.

6.8.8. Phòng bệnh

Phát hiện sớm bò bệnh, chẩn đoán xét nghiệm, làm kháng sinh đồ và cách ly điều trị kịp thời.

- Thực hiện vệ sinh thú y và vệ sinh môi trường: định kỳ tẩy uế chuồng trại bằng nước vôi 10%, axit phênic - 25%, NaOH -2%.

- Chăm sóc tốt đàn bò: chuồng trại khô sạch, thoáng mùa hè và ấm mùa đông.
Cho bò và bê ăn đúng tiêu chuẩn khẩu phần, đảm bảo đủ dinh dưỡng..

2. Bệnh sản khoa

2.1. Bệnh viêm vú tiềm ẩn

2.1.1. Đặc điểm của bệnh

Là thể viêm không có các triệu chứng thể hiện ra bên ngoài rõ rệt, chỉ được phát hiện qua các xét nghiệm mức độ nhiễm vi sinh trên sữa hoặc qua  sữa. Viêm vú tiềm ẩn rất nguy hiểm vì có thể làm gia tăng nguy cơ lây lan mầm bệnh viêm vú cho toàn đàn, nhất là trong trường hợp vắt sữa bằng máy.

2.1.2. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh viêm vú trước đó không được điều trị khỏi hẳn, bệnh chuyển sang thể mãn tính và tái phát khi có điều kiện thuận lợi;

- Sức đề kháng của cơ thể con vật kém trong quá trình chăm sóc dinh dưỡng và vệ sinh môi trường, chuồng trại kém, nhiệt độ thời tiết thay đổi bất thường sẽ làm bệnh bộc phát.

2.1.3. Triệu chứng của bệnh

Bệnh viêm vú tiềm ẩn là bệnh không gây hiện tượng viêm trên các tổ chức của tuyến vú mà sự có mặt của các vi khuẩn trong bầu vú chỉ làm thay đổi tính chất và giảm sản lượng sữa từ từ. Chính vì không có các triệu chứng rõ rệt nên người chăn nuôi rất khó phát hiện, nguy cơ lây lan mầm bệnh trong toàn đàn cao, gây thiệt hại về kinh tế rất lớn.

2.1.4. Chẩn đoán

Đối với trường hợp viêm vú tiềm ẩn hoặc viêm vú lâm sàng thể nhẹ rất khó phát hiện bằng mắt thường hoặc thông qua việc sờ khám bầu vú. Hiện nay, các nông hộ chăn nuôi thường chẩn đoán nhanh bệnh viêm vú bằng các phương pháp sau:

- Phương pháp thử cồn 700-750: dựa vào nguyên tắc chất đạm trong môi trường acid sẽ bị tủa bởi cồn. Tỷ lệ cồn và sữa là 1:1.

Cách tiến hành:

Bước 1: cho 2ml sữa vào 2ml cồn chứa trong ống nghiệm.

Bước 2: lắc nhẹ, sau đó quan sát trên thành ống nghiệm.

Bước 3: đọc kết quả:

  - Dung dịch đồng nhất: bò không có bệnh.

- Có mảng bám lợn cợn trên thành ống nghiệm: khả năng bò bị nhiễm bệnh.

- Phương pháp thử CMT (California Mastitis Test): là phương pháp nhằm phát hiện bệnh viêm vú qua số lượng tế bào bạch cầu trong 1ml sữa. Hiện nay, đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán viêm vú tiềm ẩn.

Tỷ lệ sữa và dung dịch CMT là 1:1.

Cách tiến hành:

Bước 1: lau sạch núm vú trước khi vắt sữa.

Bước 2: vắt sữa của 4 núm vú vào 4 đĩa Pétri khác nhau, mỗi đĩa lấy 2ml sữa.

Bước 3: cho 2ml dung dịch CMT vào từng đĩa.

Bước 4: xoay tròn đĩa, đặt đĩa Pétri trên nền hơi tối để quan sát.

Bước 5: đọc kết quả dựa trên sự đóng vón và thay đổi màu sắc của hỗn hợp.

 

Ðộ đồng nhấtt

Màu sắc

 

Kết quả

Số lượng tế bào bạch cầu/
1ml sữa

Kết luận

- Hỗn hợp đồng nhất.

- Hỗn hợp lợn cợn.

 

- Sự đóng ván nhìn thấy.

- Sự đóng ván dày thành từng đám nhớt.

- Sự đóng ván dày giống lòng trắng trứng.

màu xám

màu xám hoi ngã tím

màu xám tím

 

màu tím         

 

màu tím đậm

0

 

±

 

 

+

 

+ +

 

 

+ + +

 

0 200.000 tế bào/mlà

200.000 tếbào/ml

 

400.000 tếbào/ml

 

800.000 tế bào/ml

 

 

5.000.000 tế bào/ml

không viêm

nghi ngờ

 

 

viêm

 

viêm

 

 

viêm nặng

 

(Nguồn: TS. Đinh Văn Cải – 2002; TS. Nguyễn Văn Thành - 2004)

 

Kết quả:

-    Bò khỏe mạnh: dưới 300.000 tế bào bạch cầu/ 1ml sữa.

-    Bò bị nhiễm bệnh: trên 800.000 tế bào/ 1ml sữa.

Khi thấy kết quả khả nghi bệnh, nên cách ly bò bệnh để tránh sự lây lan cho bò khỏe, mời bác sĩ thú y đến để điều trị kịp thời.

Ngoài ra có thể dùng Phương pháp thử Blue Methylen dựa vào nguyên tắc sự mất màu của thuốc thử khi cho vào sữa, tùy theo thời gian đổi màu thuốc thử có thể ước tính mức độ nhiễm vi sinh của sữa.

Cách tiến hành:

Bước 1: cho 10ml sữa và 1ml dung dịch Blue methylen vào trong ống nghiệm.

Bước 2: lắc °nhẹ cho dung dịch trộn đều sau đó để vào tủ ấm 37C. Sau mỗi 1 giờ lắc nhẹ một lần.

Bước 3: đọc kết quả qua thời gian mất màu của dung dịch Blue methylen như sau:

 + Nếu mất màu trước 15 phút, sữa bị nhiễm vi sinh rất nặng.

 + Nếu mất màu sau 15 phút – 1 giờ, sữa bị nhiễm vi sinh nặng.

 + Nếu mất màu sau 1 giờ - 3 giờ, sữa bị nhiễm vi sinh nhẹ.

+ Nếu mất màu sau hơn 3 giờ, sữa được xem là đạt tiêu chuẩn về mức độ nhiễm vi sinh.

Tuy nhiên phương pháp này chỉ xác định mức độ nhiễm vi sinh trong sữa. Để có thể xác định bò có bị bệnh viêm vú hay không, cần kết hợp với 2 phương pháp xét nghiệm trên.

 

 

          * Đối với bò bị bệnh:

- Cách ly thú bệnh sang khu vực riêng biệt.

- Không khai thác sữa bò bệnh để bán, mà vắt sữa bỏ vào hố được sát trùng kỹ lưỡng.

2.1.5. Tiên lượng.

Nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời tiên lượng tốt, nếu để lâu tổ chức vú bị thay đổi hoặc thú không có khả năng cho sữa thì nên loại thải

2.1.6. Điều trị

Điều trị tại chỗ:

-    Massage bầu vú nếu bầu vú sưng, nóng, đỏ, đau.

-    Nhúng núm vú vào dung dịch Iod.

-    Dùng các loại Pomade như Mastijet fort hay Super Mastikort, mỗi ống cho 1 núm vú viêm, liệu trình điều trị 2 – 3 ngày.

-    Dùng kháng sinh thay cho Pomade bơm vào núm vú, dùng tay vuốt thuốc lên trên. Liều dùng 200 – 400mg/1 núm vú.

* Điều trị toàn thân:

- Dùng Bio-dexa: 5 – 15 ml/ con, tiêm bắp hay tĩnh mạch (từ 1 – 3 ngày). Lưu ý không nên dùng trên bò cái đang mang thai vì thuốc có thể gây sẩy thai.

- Giảm đau, sốt dùng Vitamin C + Analgine 20ml/1con, tiêm bắp.

- Sử dụng kháng sinh Remacycline (liều 1ml/10kgP), hoặc một số loại kháng sinh như: Gentamycine, Cephalexin, Amoxillin, … tiêm bắp. Thời gian tiêm kháng sinh điều trị toàn thân từ 3 - 5 ngày.

Chú ý: Đối với liệu trình điều trị kháng sinh trên bò, ta nên làm kháng sinh đồ để xác định tính đề kháng của vi khuẩn với kháng sinh thì việc điều trị có kết quả hơn.

Ngoài ra trong quá trình điều trị cũng cần các biện pháp hỗ trợ như: giảm lượng thức ăn tinh trên bò bị viêm vú (do trong thời gian điều trị không khai thác sữa), có chế độ chăm sóc riêng, bổ sung ADE và các vitamin.

Tùy loại kháng sinh điều trị, thời gian khai thác sữa trở lại sau điều trị là 2 - 3 ngày.

2.1.7. Phòng bệnh

Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng tốt.

-    Định kỳ vệ sinh sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi và các dụng cụ vắt sữa.

 -    Đảm bảo chuồng trại khô ráo, không đọng phân, nước tiểu.

-    Cho bò ăn sau khi vắt sữa để giữ bò ở tư thế đứng trong một thời gian, hạn chế vi trùng xâm nhập vào đầu vú.

-    Thực hiện quy trình kiểm soát vệ sinh vắt sữa.

-    Thực hiện thao tác vắt sữa đúng kỹ thuật.

-    Thường xuyên kiểm tra bầu vú, kiểm tra độ nhiễm vi sinh của sữa bằng phương pháp thử cồn, CMT (6 tháng/ 1 lần) để sớm phát hiện bệnh viêm vú.

-    Dùng vaccin phòng bệnh viêm vú bò sữa (định kỳ 6 tháng/ lần).

2.2. Bệnh viêm vú lâm sàng

2.2.1. Đặc điểm của bệnh

Thể viêm vú lâm sàng đặc trưng bởi những biến đổi rõ rệt ở tuyến sữa hoặc sữa. Những biến đổi trên có thể ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau trong quá trình diễn biến của bệnh. Các trường hợp bệnh ở thể lâm sàng có thể được coi là thể bán cấp tính (thể lâm sàng nhẹ) khi các biểu hiện biến đổi nhẹ của sữa và các núm vú bị nhiễm như tạo váng, lổn nhổn hoặc sữa biến màu. Các núm vú này có thể bị sưng nhẹ và nhạy cảm.

2.2.2. Nguyên nhân gây bệnh

Bầu vú quá to dễ xây xát và dẫn tới viêm

-    Lỗ đầu vú quá to hoặc do sản lượng sữa cao và vi trùng dễ xâm nhập gây viêm
  -    Bò khai thác lâu năm, đẻ nhiều cũng là nguyên nhân gây bệnh.
  -    Giai đoạn đầu kỳ cho sữa và cạn sữa nếu chăm sóc không tốt bò dễ bị viêm vú.

 *. Do môi trường nuôi:

Điều kiện chuồng trại kém vệ sinh, thiếu ánh sáng, không thông thoáng. Chăm sóc quản lý, khai thác sữa không đúng kỹ thuật. Vắt sữa không cạn hết, không vệ sinh kỹ trước và sau khi vắt sữa.

*. Do nhiễm trùng:

Đây là nguyên nhân chính gây ra viêm vú, các vi khuẩn thường gặp trong sữa, bầu vú bị viêm là: Staphylococcus aureus, Streptococcus agalactiae, Streptococcus dysgalactiae, Streptococcus uberis, E.coli, Enterobacter…ngoài ra còn có các loại khác cũng tham gia gây bệnh như: Corynebacterium bovis, Pseudomonas aeruginosa, Pasteurella multocida, Actinomyces pyogenes, Mycoplasma bovis và một số loài nấm như: Candida albicans, Aspergillus fumigatus

2.2.3. Triệu chứng của bệnh

Bò bị bệnh viêm vú dẫn đến hư hại tuyến vú, những tế bào tuyến sữa bị phá hủy, gây các biến chứng như: 

+ Teo bầu vú: phần lớn tế bào vú bị tổ thương, sự tiết sữa giảm hoặc không được phục hồi, thể tích thùy vú nhỏ hơn bình thường.

+ Xơ cứng bầu vú: sờ vào bầu vú thấy rắn chắc hoặc xoa bầu vú thấy những cục rắn hoặc rắn toàn bộ.

+ Bầu vú bị hoại tử: lúc đầu bề mặt bầu vú có những đám màu hồng tím, cứng đau, về sau lóet và hoại tử có mủ. Toàn bộ thùy vú sưng to, ấn vào thấy dịch màu hồng chảy ra.

2.2.4. Chẩn đoán

Trong trường hợp viêm vú thể cấp tính thì triệu chứng lâm sàn quá rõ ràng. Nhưng việc chẩn đoán thể viêm vú tiềm ẩn rất quan trọng nhằm giảm những thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi.
  + Viêm vú thể lâm sàng: Bầu vú sưng to, có các tế bào biểu mô trong sữa, thú sốt, bỏ ăn, giảm sản lượng sữa. Kiểm tra sữa bằng mắt thường có thể thấy: sữa có mùi hôi, màu vàng, lợn coin hoặc có máu.
  + Viêm vú thể tiềm ẩn: Dùng phản ứng nhanh bằng cồn 70o để phát hiện bệnh, nhưng dùng phương pháp CMT để phát hiện bệnh thì chính xác hơn.
  * Phương pháp thử CMT:
  - Thuốc thử CMT gồm: Teepol 10%, bột Bromo crésol 1/10.000.
- Sau khi sát trùng bầu vú và núm vú, vắt bỏ những tia sữa đầu tiên ở các thùy vú để tránh nhiễm tạp khuẩn. Sau đó lấy khỏang 20ml sữa trên mỗi thùy vú và cho vào 4 đĩa trong khay, cho thêm2ml thuốc thử vào mỗi đĩa chứa sữa, lắc đều. Đọc và giải thích kết quả:

2.2.5. Tiên lượng

Nếu phát hiện sớm và điều trị tích cực, kịp thời thì tiên lượng tốt, nếu không thì tiên lượng xấu

2.2.6. Điều trị

Viêm vú thể lâm sàng:

 + Thường xuyên tiến hành xoa bóp bầu vú bị viêm bằng nước nóng, vắt sạch sữa bị viêm ra ngoài, ngày 3-4 lần và vệ sinh bầu vú và chuồng trại sạch sẽ.

+ Dùng các loại thuốc mỡ dạng Syringe của công ty Anova như MAMMAJECT bơm trực tiếp vào bầu vú bị viêm, mỗi ngày bơm thuốc 2 lần sau khi vắt sữa, dùng 3-4 ngày liên tục. Phối hợp với tiêm kháng sinh, dùng 01 trong các sản phẩm sau: NOVA-PENI STREPTO, NOVA-TYLOSIN 20%, NOVA-DOXYL 10%, NOVA-GENTYLO.

- Viêm vú thể tiềm ẩn: Dùng thuốc mỡ dạng syringe bơm trực tiếp vào bầu vú bị viêm mỗi ngày bơm thuốc 2 lần sau khi vắt sữa, dùng 3-4 ngày liên tục.

2.2.7. Phòng bệnh.

Áp dụng đúng quy trình kỹ thuật vắt sữa, như sau:

-  Vắt sữa trên bò khỏe trước.

-   Rửa sạch bầu vú trước và sau khi vắt sữa.

-   Mỗi 1 con dùng 1 khăn lau vú riêng.

-  Nhúng đầu vú vào dung dịch sát trùng (Iod) sau khi vắt sữa xong.

- Định kỳ hàng tuần kiểm tra bệnh viêm vú cho bò đang vắt sữa.

3:   BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRÊN TRÂU, BÒ

3.1. Bệnh sán lá dạ c

3.1.1. Đặc điểm của bệnh

Bệnh sán lá dạ cỏ do nhiều   loài sán lá ký sinh ở dạ cỏ gây ra. Trước đây, người ta
chưa xác định rõ tác hại của sán lá dạ cỏ ở gia súc nhai lại. Song những năm gần đây,với những nghiên cứu sâu hơn, các nhà khoa học đã chứng minh được rằng, sán lá dạ cỏ ký sinh phổ biến và gây nhiều tác hại đối với vật chủ. Vì vậy, hiện nay bệnh sán lá dạ cỏ được chú ý bởi vai trò gây bệnh đặc biệt nghiêm trọng của sán non và tỷ lệ chết
cao ở gia súc bị bệnh.

3.1.2. Nguyên nhân gây bệnh

- Bệnh Paramphistomatidae do nhiều loài sán gây ra thuộc các giống Paramphistomum, Gigantocotyle,  Caticophoron, Cotylophoron, Ceylonocotyl,Gastrothilax, Carmeyrius, Fischoederiu thuộc họ Paramphistomatidae. Loài được nghiên cứu nhiều là Paramphistomus cervi.

- Sán này thường ký sinh ở dạ cỏ.

Ở nước ta bệnh khá phổ biến. Tỷ lệ nhiễm ở trâu: 100%; bò: 90,4%, cừu: 37% 1

ở bê: 20%. Có những trâu nhiễm trên 10 vạn sán.

3.1.3. Dịch tễ học

Ở nước ta bệnh khá phổ biến. Tỷ lệ nhiễm ở trâu: 100%; bò: 90,4%, cừu: 37% 1

ở bê: 20%. Có những trâu nhiễm trên 10 vạn sán.

- Ký chủ trung gian gồm nhiều loại ốc nước ngọt: Planorbis Compress, Planorbis planorbis,  Planorbis  exustus, Planorbis contorlus,  Bulinus contorlus,

3.1.4. Chu trình phát triển

Sán trưởng thành  thường ký sinh  ở  dạ cỏ. Sau khi thành thục  sinh dục, sán đẻ trứng. Trứng theo phân ra ngoài. Nếu gặp điều kiện thuận lợi sau 11-12 ngày trứng nở ra miracidium. Miracidium bơi trong nước tìm ký chủ trung gian.

Nếu gặp ký chù trung gian thích hợp miracidium chui vào cơ thể ốc và phát triển

thành  sporocyst. Bằng sinh sản vô  tính, mỗi sporocyst sinh  ra 9 redia, mỗi redia  sinh ra 20 cercaria. Do đó, từ một miracidium có thể sinh ra 180 cercaria. Quá trình này  tiến  hành trong cơ thể ốc và cần 52 – 60 ngày. Cerearia sau khi hình thành, chui  ra  khỏi  ký chủ trung gian, bơi trong nước  một thời  gian và biến thành adolescaria trong những vùng nước và trên cây cỏ thủy sinh. Nếu súc vật nuốt phải adolescaria, trong cơ ấu trùng được giải phóng và di hành phức tạp, cuối cùng đến dạ cỏ và phát triển thành sán trưởng thành, lại tiếp tục đẻ trứng sau thời gian 207 ngày.

3.1.5. Triệu chứng

Do ấu  trùng sau khi xâm nhập vào cơ thể, tiếp tục di hành và cư trú trong các cơ

quan, làm con vật mệt mỏi, sau vài ngày xuất hiện ỉa chảy, gày còm. Đuôi, quanh hậu môn và chi dưới dính phân lỏng. Niêm mạc ở mắt mũi xoang miệng nhợt nhạt. Mũi loét. Nhiệt độ thân thể bình thường. Sau 7-10 ngày nhiễm có khi nhiệt độ tăng tới 40-40°5. Một số súc vật ốm có xuất huyết ở kết mạc mắt, niêm mạc miệng và ở mũi. Thủy thũng ở vùng dưới vú và vùng gian hàm. Khi ỉa chảy nặng, trong phân có lẫn máu và chất nhầy mùi thối. Lông xù, dễ rụng. Mắt sâu trũng, lờ đờ. Dạ cỏ bị liệt. Đau bụng. Nghiến răng. Khi cảm nhiễm nặng: con vật ngày càng gầy yếu trầm trọng rồi chết sau từ 5 đến 30 ngày. Tỷ lệ chết cao, thường ở súc vật non và ở giai đoạn sán non xâm nhập sâu vào trong cơ thể.

- Những súc vật nuôi tốt, cảm nhiễm nhẹ, bệnh kéo dài 3-4 tuần, sau đó khỏi,

triệu chứng mất dần.

- Bệnh ở dạng mạn tính hoặc do sán trưởng thành gây ra thường biểu hiện: Con vật gầy còm dần, kém ăn, ỉa chảy liên  tục, thủy thũng ở vùng  gian hàm và dưới vú. Niêm mạc nhợt nhạt. Nhiệt độ thân thể bình thường.

 3.1.6. Chẩn đoán.

Với trâu, bò còn sống, dựa vào  triệu chứng  lâm sàng hoặc dựa vào xét nghiệm

phân bằng phương pháp gạn rửa sa láng để tìm trứng sán. Cần phân biệt trứng sán Paramphislomatidae với trứng sán Fasciola.

- Với trâu, bò chết, mổ khám tìm sán trưởng thành và sán non và dựa vào bệnh tích để kết luận.

3.1.7. Điều trị

- Chưa tìm được thuốc có hiệu quả với bệnh Paramphistomatidae. Để điều trị bệnh này cho trâu, bò, có thể dùng Hexacloretan (C2Cl6) liều 0,2-0,4g/kg thể trọng, cho uống một lần. Hiện nay có thể dùng Benzimidazol (KST đa giá) cho hiệu lực tốt.

3.1.8. Phòng bệnh.

Những biện pháp  phòng bệnh Paramphistomatiđae  tương  tự như  phòng  bệnh

Fascioli và chủ yếu là:

+ Làm khô ráo những vùng lày lội trên đòng cỏ, bãi chăn, cải tạo đất, làm cho ky chủ trung gian không còn tồn tại được.

+ Nuôi vịt, ngan, ngỗng và những thủy cầm khác để diệt ký chủ trung gian.

+ Tổ chức diệt ký chủ trung gian bằng những chất hóa học (CuSO4, CaO...). 

+ Không chăn thả súc vật ở những bãi chản ẩm thấp, lầy lội có ký chủ trung gian

+ Định kỳ tẩy trừ sán cho toàn đàn

+ Ủ theo phương pháp sinh vật học để diệt trứng trong phân

3.2. Bệnh sán lá gan

3.2.1. Đặc điểm của bệnh

Bệnh sán lá gan là một bệnh xảy ra khá phổ biến ở bò, bệnh thường ở thể mãn tính ở bò trưởng thành làm cho con vật gầy yếu, chậm lớn, giảm sản lượng sữa và chỉ gây bệnh cấp tính trên bê, chính vì vậy người chăn nuôi thường không phát hiện được bệnh từ đó ít quan tâm đến việc phòng bệnh mà làm giảm hiệu quả trong chăn nuôi

3.2.2. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh sán lá gan ở bò do sán lá Fasciola gigantica  Fasciola hepatica

 ký sinh ở gan và mật gây ra. Kí sinh trùng có hình bầu dục, dẹt, như một chiếc lá, mầu nâu xám. Vật chủ trung gian của sán lá gan là ốc nước ngọt (ốc Limnea).

3.2.3. Dịch tễ học

Bệnh sán lá gan là bệnh chung của hầu hết các loài thú đặc biệt là loài nhai lại, kể cả người. Trâu bò bị nhiễm bệnh nặng hơn và ở tất cả các lứa tuổi.

Bê nghé non bị bội nhiễm sẽ phát bệnh ở thể cấp tính. Trong điều kiện sinh thái ở nước ta, đàn trâu bò thường bị nhiễm sán lá gan quanh năm. Bởi vì thời tiết ấm áp và ẩm ướt trên mặt đất làm cho ốc ký chủ phát triển mạnh từ đó lảm môi giới truyền bào ấu cho trâu bò suốt 12 tháng trong năm. Nhìn chung tất cả các trâu bò nhập nội đều mắc bệnh sán lá gan, kể cả bò sữa. Trâu bò nhiễm sán khi gặp điều kiện không thuận lợi vào vụ đông và đầu vụ xuân (làm việc nặng, thời tiêt lạnh, thiếu thức ăn xanh) sẽ phát bệnh hàng loạt rồi chết, đôi khi tưởng là một bệnh truyền nhiễm.

3.2.4. Chu trình phát triển

Khác với một số ký sinh trùng khác vòng đời của sán lá gan có các giai đoạn như sau: Sán lá trưởng thành sống trong các ống dẫn mật và túi mật của gan, đẻ trứng ở đó. Trứng theo ống dẫn mật về ruột rồi thải ra ngoài theo phân. Trứng gặp các điều kiện thuận lợi như thời tiết nóng, ẩm sẽ trở thành mao ấu di chuyển được trong nước ao hồ. Mao ấu tìm và chui vào cơ thể ký chủ trung gian đó là loài ốc có phổi sống phỏ biến ở hồ ao, ruộng trũng. Mao ấu phát triển thành bào ấu, vĩ ấu và chui ra khỏi ốc. Vì ấu ra ngoài tự nhiên, rụng đuôi, biến thành “kén” tức là ấu trùng cảm nhiễm. Từ thành bào ấu cần khoảng 3 tháng để phát triển. Bào ấu trôi nổi trên mặt nước rồi bám vào cỏ, các loài cây thủy sinh. trâu bò ăn phải thức ăn và nước uống có kén, sẽ thành sán lá gan. Vào cơ thể ký chủ kén nở thành sán non và đi ngược theo ống dẫn mật về mật và gan, ở lại đó phát triển thành giai đoạn trưởng thành mất khoảng 3 tháng.

3.2.5. Triệu chứng

Thể cấp tính: Bò bệnh bỏ ăn, chướng hơi dạ cỏ, sau đó tiêu chảy dữ dội, phân loãng xám có mùi tanh. Sau vài ngày, con vật bệnh nằm bệt không đi được và chết trong tình trạng mất nước, rối loạn điện giải và kiệt sức. Thể này thường xẩy ra nặng ở bê nghé dưới 6 tháng tuổi, do sức đề kháng kém và dễ bị bội nhiễm các vi khuẩn gây bệnh như E.coli, Salmonella,…

Thể mạn tính: Thường xẩy ra ở bò trưởng thành. Bệnh tiến triển theo 3 thời kì:
- Thời kì đầu, thường không có biểu hiện triệu chứng rõ rệt.
- Thời kì thứ hai, bò có biểu hiện thiếu máu, gầy, hay khát nước, hơi sốt và thủy thũng nhẹ ở phúc mạc. Kết mạc mắt sưng và nhợt nhạt, mí mắt phù.
- Thời kì thứ ba, bò gầy rạc, những con có thai thường sảy thai hoặc đẻ non, bê non yếu ớt, nhẹ cân. Bò bỏ ăn, tiêu hóa kém, ỉa lỏng kéo dài. Triệu chứng đặc trưng là thủy thũng dưới hàm.

Thời gian tiến triển của bệnh rất thay đổi, nhưng ít khi kéo dài 6 tháng. Con vật chết do kiệt sức, không đau đớn và không co giật.

3.2.6. Chẩn đoán

Để chẩn đoán bệnh sán lá gan cần căn cứ vào các triệu chứng điển hình như ỉa

chảy kéo dài, con vật gầy yếu, nuôi chậm lớn. Trường hợp cả vùng bị nhiều nhất là ở các khu vực có nhiều mương máng, ao hồ thì có thể lấy mẫu phân để tìm trứng sán (biện pháp này cũng đơn giản không quá cầu kỳ như các bệnh ký sinh trùng đường máu).

3.2.7. Điều trị

- Phác đồ 1: Dùng Dertyl B với liều 6 – 8 mg/kg thể trọng. Thực tế dùng viên Dertyl B của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y Hanvet thì dùng 1 viên (viên nén tròn có màu hồng) tẩy cho 50 kg thể trọng. Cho trâu bò uống vào buổi sáng là tốt nhất, uống xong có thể cho trâu bò đi chăn thả bình thường. 

- Phác đồ 2: Dùng thuốc Benvet 600 của Công ty TNHH Thú y xanh Việt

Nam, viên nén bầu dục có màu trắng tẩy 1 viên cho 60 kg thể trọng. Cho uống vào buổi sáng sớm trước khi cho trâu bò đi chăn thả. 

Hai loại thuốc trên còn dùng để phòng định kỳ hàng năm cho trâu bò, thuốc sử dụng an toàn có hiệu quả phòng trị bệnh cao.

8.2.8. Phòng bệnh

- Định kỳ tẩy sán bằng một trong hai loại thuốc trên với 1 - 2 lần/ năm.

- Ủ phân để diệt mầm bệnh và trứng sán 

 - Diệt ký chủ trung gian dó là các loài ốc bằng biện pháp có thể phun Sunphats

đồng (CuSO4) nồng độ 3 – 4 % lên bãi cỏ, cây thủy sinh.

- Nâng cao sức đề kháng cho trâu bò bằng chăm sóc nuôi dưỡng tốt, cho trâu

bò ăn uống đầy đủ.

8.3. Bệnh giun đũa bê nghé

8.3.1. Đặc điểm của bệnh

 Do một loài giun tròn giống chiếc đũa gây ra với đặc điểm là bê nghé  nghé bỏ bú, không theo mẹ, nằm một chỗ, thở yếu, đau bụng, nằm ngửa dãy dụa, đạp chân lên phía trước bụng

8.3.2. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh giun đũa bê, nghé do loài giun tròn Neoascaris Vitulorum ký sinh trong tá tràng của bê nghé gây ra. Ngoài ra, giun đũa cũng có thể ký sinh ở ruột của trâu bò trưởng thành, dê, cừu ... Bệnh lây lan qua đường tiêu hóa khi vật chủ nuốt phải ấu trùng giun. Đối với bê, nghé, bệnh có thể lây truyền từ mẹ qua nhau thai. Bệnh giun đũa có tính mùa vụ. Vào vụ ĐX, do điều kiện ngoại cảnh khắc nghiệt, giá rét, thức ăn nhiều, mẹ thiếu sữa nên bệnh phát sinh và gây hại nặng. Tuổi mắc bệnh phổ biến nhất của bê, nghé là vào lúc 25-35 ngày tuổi (chiếm tỷ lệ 64%) và sớm nhất có thể mắc vào lúc 14 ngày tuổi (23%).

3.3.3. Dịch tễ học

 -Bệnh giun đũa bê nghé được phát hiện ở  hầu hết các miền ở nước ta. Song nặng nhất là ở bê nghé miền núi. Và bệnh thường diễn ra vào vụ đông xuân.

- Loài Toxocaris Vitulorum chỉ phát hiện ở bê nghé, hiếm khi thấy ở trâu bò.

- Thường bê nghé 1 - 3 tháng tuổi mắc nhiều.

- Tỉ lệ nhiễm có thể lên tới 39,1%.

3.3.4. Chu trình phát triển

Giun trưởng thành (ở ruột non) > Trứng theo phân ra ngoài > Trứng cảm nhiễm > Bê nghé ăn vào ruột > Giun chưa trưởng thành di hành qua phổi, gan > Giun trưởng thành trong ruột bê nghé.

3.3.5. Triệu chứng

Về lâm sàng: Bệnh xảy ra phổ biến ở bê nghé từ 11 - 30 ngày tuổi. Bê nghé ủ rũ, lù xù, chậm chạp đầu cúi, lưng cong, đuôi cụp, thường chết vào ngày thứ 7 - 16. Lúc đầu còn theo mẹ, khi bệnh nặng nghé bỏ bú, không theo mẹ, nằm một chỗ, thở yếu, đau bụng, nằm ngửa dãy dụa, đạp chân lên phía trước bụng. Có khi nghe rõ tiếng sôi bụng. Bê, nghé gấy sút nhanh chóng, da khô, lông dựng, mắt lờ đờ, niêm mạc nhợt nhạt, mũi khô, hơi thở thối.

Phân màu trắng, mùi rất thối, con vật ỉa chảy nặng, ỉa vọt cần câu, phân dính ở khuỷu chân và xung quanh hậu môn. Có thể xem đây là một triệu chứng điển hình giúp cho việc chẩn đoán xác định bệnh giun đũa bê nghé.

 

3.3.6. Chẩn đoán

+ Căn cứ triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học: Bệnh thường thấy ở bê nghé, trâu bò không bị mắc, chú ý biến đổi của phân, phân trắng, lỏng, khắm.

+ Kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi tìm trứng.

+ Mổ khám, tìm giun trưởng thành ở ruột và ấu trùng ở gan và phổi .

3.3.7. Điều trị

 Tiêm một trong các thuốc sau: Ivermectin, Hanmectin, Md Divermectin liều 1ml/10kg thể trọng bê ngé.

- Dùng Mevebet 0,5gr/kg thể trọng cho uống vào 2 buổi sáng.

- Piperazin 0,3-0,5gr/kg thể trọng trộn lẫn với thức ăn hay hoà vào nước cho uống.

- Sulfat đồng 1% 2ml/kg thể trọng cho uống.

- Phenolthiazin 0,05g/kg thể trọng uống 2 lần trong ngày, uống 2 ngày liền.

- Tetramysol 10mg/kg thể trọng. Cho uống sau khi bê nghé đã bú hoặc ăn.

 

3.3.8. Phòng bệnh

Thực hiện tốt quy trình vệ sinh phòng bệnh và chăm sóc nuôi dưỡng. Chuồng trại sạch sẽkhô ráo, định kỳ tiêu độc chuồng trại, ủ phân diệt trứng giun.

- Để chủ động phòng bệnh, sau khi đẻ 7-10 ngày, cần cho bê uống một trong các loại thuốc tẩy giun trên đặc biệt là ở những vùng có bệnh. Cho bê uống 1 lần vào buổi sáng, khi uống nên cho bê nhị đói.

3.4. Bệnh ký sinh trùng đường máu

3.4.1. Bệnh do Babesia

3.4.1.1. Nguyên nhân gây bệnh

 Là bệnh kí sinh trùng đường máu ở bò do Babesia spp kí sinh trong hồng cầu của bò gây ra với đặc điểm điển hình là: “sốt cao, đái đỏ”. Bệnh xẩy ra ở bò sữa nhập nội và bò nội.

- Bệnh truyền qua vật chủ trung gian là các loài ve (Booplilus spp, Ixodes spp), chúng hút máu bò bệnh sau đó truyền bệnh cho bò khỏe. Bò ở các lứa tuổi điều nhiễm bệnh nhưng phổ biến ở lứa tuổi từ 5 tháng đến 3 năm tuổi. Bệnh thường lây lan mạnh vào các tháng nóng ẩm khi ve phát triển mạnh

3.4.1.2. Chu trình phát triển

 Ký chủ cuối cùng: trâu bò (sinhsản vô tính trong hồng cầu).

Ký chủ trung gian: vecứng Boophilus microplus 

Truyền qua trứng (transovarian), truyền qua các giai đoạn lột xác (transtadial), mầm bệnh sinh sản hưũ tính trongruột ve

3.4.1.3. Triệu chứng

* Thể cấp tính: Thời gian nung bệnh từ 10-15 ngày.

- Con vật miệt mỏi, kém ăn trong thời gian nung bệnh. Sau đó sốt cao liên tục hàng tuần ở 40- 410 C. Bò đái ra nước tiểu màu hồng, đỏ dần và cuối cùng đỏ đậm như màu cafê do trong nước tiểu có nhiều huyết sắc tố. có trường hợp bò ỉa chảy ra máu.

- Các hạch lâm ba sưng to, phù thũng đặc biệt là hạch trước vai và trước đùi. Hồng cầu và huyết sắc tố đều giảm xuống rất nhanh, chỉ 3-7 ngày có thể giảm tới 60-70% so với trạng thái sinh lý bình thường.

- Bò thở khó do thiếu hồng cầu vận chuyển oxy. Các niêm mạc: mắt, miệng đỏ sẫm mấy ngày đầu, sau tái nhợt ở giai đoạn cuối của bệnh.

 

*Thể mạn tính:

- Các dấu hiệu lâm sàng giống thể cấp tính nhưng nhẹ hơn. Bò thể hiện thiếu máu, gầy yếu và giảm sản lượng sữa hoặc cạn sữa. Một số trường hợp bò mang thai bị bệnh có thể sảy thai. 

3.4.1.4. Chẩn đoán

Dịch tễ :Mùa, tuổi mắc bệnh,gia súc nhập

- Triệu chứng : Sốt cao, liên miên, đái đỏ ( Phân biệt với xoắn trùng, nhiệt thán)

- Nhuộm giem sa: Tìm LDT trong máu

- Kiểm tra ve trên cơ thể tìm LDT

- Tiêm truyền cho bê non chưa mắc bệnh.  Lấy máu bê nhuộm giem sa tìm LDT

Chẩn đoán phân biệt

Đặc điểm 

Lê dạng trùng 

Xoắn trùng 

Nhiệt thán

Thể bệnh 

Cấp tính 

Mãn tính 

Quá cấp

Tuổi mắc 

2 -5 năm 

Mọi tuổi 

Mọi tuổi 

Trạng thái  sốt

Sốt cao  liên miên

Sốt nhẹ 

Sốt cao kỳ đầu

Nước tiểu 

Hb Đỏ đều 

Có HC, Hb 

Có HC

Lỗ tự nhiên 

Không có máu

Không có máu

 Có máu

Niêm mạc

sốt

Sốt cao 

liên miên

Lá lách  Sưng

Sưng,nát, nhũn

Bình thường

Nát như bùn

 

3.4.1.5. Điều trị

 Để điều trị lê dạng trùng hiệu quả ta nên dùng Azidin 1,18 g của HANVET

Cách dùng như sau:

      + Pha 1 lọ Azidin 1,18 g với 7 ml nước cất.

      + Tiêm sâu bắp thịt hoặc tiêm chậm tĩnh mạch với liều: 1lọ/150 kgTT.

 

* Chú ý khi sử dụng:

- Nếu lượng thuốc lớn >15ml nên tiêm 2 vị trí để tránh cho gia súc đau.

- Nếu bệnh nặng, cần thiết thì tăng liều gấp đôi, song tổng liều không quá 7 lọ/con.

- Nếu sau khi tiêm thân nhiệt không giảm, cỏ thể tiêm nhắc lại sau 24 giờ.

- Trước khi dùng thuốc khoảng 10-15 phút nên tiêm cafein để trợ tim, trợ sức.

- Nếu sau 10-12 ngày, bò bệnh chưa hết các dấu hiệu lâm sàng sẽ tiêm thêm 1 liều nữa.

- Trong thời gian điều trị cần có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng tốt, bổ sung thêm các vitamin, khoáng chất cho bò bệnh để nâng cao sức đề kháng, dùng Han-TophanHan-Goodway, Bcomplex, ADE, Hanmix-VK9

3.4.1.6. Phòng bệnh

Thường xuyên thực hiện vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, thức ăn, nước uống, phát quang bụi rậm, lấp vũng nước, khơi thông cống rãnh, bãi chăn để côn trùng không lưu trú và phát triển.

Định kì dùng thuốc khử trùng tiêu độc: Han-Iodine 10% phun 1-2 lần/tuần.

Diệt côn trùng ve, mòng, ruồi, muỗi, dùng Hantox-200, Hantox-spray  phun, xịt 2-3 tuần/lần.

Tăng cường nuôi dưỡng và chăm sóc tốt gia súc đặc biệt là lúc giao mùa để nâng cao sức đề kháng đối với bệnh. Bổ sung các thuốc bổ, vitamin, khoáng vào thức ăn:  Han-Goodway, Bcomplex, ADE, Hanmix-VK9,….

- Hàng năm định kì kiểm tra máu, cứ 4-6 tháng/lần, để phát hiện bò bệnh điều trị kịp thời. 

3.4.2. Bệnh do Anaplasma

3.4.2.1. Nguyên nhân gây bệnh

   Thường do một số ký sinh trùng chủ yếu trong hồng cầu, tiểu cầu gia súc, chủ yếu là Anaplasma marginale và Anaplasma kentrale.
-    Anaplasma marginale: ký sinh chủ yếu ở rìa hồng cầu.
-    Anaplasma kentrale: ký sinh ở giữa hồng cầu trâu bò.
-    Vật truyền mầm bệnh là các loại ve, ngoài ra còn truyền qua các dụng cụ kim chích, truyền máu, cấy chuyển phôi…
 
-    Mùa nhiễm bệnh là mùa hè (tháng 6-10), đôi khi xảy ra ở mùa khô do gia súc làm việc nhiều, thiếu dinh dưỡng.

-    Anaplasma spp tồn tại trong máu nhiều năm, bê non sau khi đẻ 5 giờ có thể nhiễm với tỷ lệ cao. Biên trùng có thể truyền qua bào thai

3.4.2.2. Chu trình phát triển

Qua các giai đoạn sau

 + Giai đoạn ký sinh ở hồng cầu trâu bò, sinh sản vô tính. 

Giai đoạn ở vật chủ trung gian là ve họ Ixodidae

Trong vật chủ trung gian, lê dạng trùng sinh sản hữu tính, qua 5 giai đoạn, cuối cùng thành bào tử, vào tuyến nước bọt ve, truyền sang trâu bò khi ve hút máu trâu bò.

3.4.2.3. Triệu chứng

- Biên trùng Anaplasma spp xâm nhập vào cơ thể và kí sinh trong hồng cầu, hút chất dinh dưỡng, phá hủy hồng cầu, gây thiếu máu trầm trọng. Mặt khác, chúng sản sinh độc tố, tác động lên thần kinh trung ương gây sốt cao kéo dài trong suốt thơi gian bệnh. Tùy thuộc vào thể trạng và sức đề kháng của con vật mà bệnh có thể phát ra nặng hay nhẹ. Thời kì nung bệnh từ 7-14 ngày. Bò bệnh thường có các biểu hiện sau:

* Thể cấp tính:- Sốt cao 40- 41C, nhiệt độ lên xuống thất thường kiểu hình răng cưa. Lúc sốt cao toàn thân run rẩy, các cơ bắp, vai, mông co giật. 
- Con vật thở gấp, khó thở do hồng cầu không tiếp nhận được oxy; tim đập nhanh, mạnh, bỏ ăn không nhai lại, giảm nhu động dạ cỏ, chảy nhiều rớt dãi.
- Các niêm mạc miệng, mắt nhợt nhạt, thiếu máu do hồng cầu bị phá hủy.
- Bò bị tiêu chảy và gầy sút nhanh, nếu không điều trị kịp thời bò bệnh sẽ chết.
* Thể mạn tính :

- Triệu chứng giống thể cấp tính nhưng mức độ có phần nhẹ hơn. Thường một số con bệnh sau khi vượt qua thể cấp tính chuyển sang thể mạn tính với các triệu chứng sốt 39-41C trong 7-10 ngày thì giảm xuống sau đó lại tăng lên, cứ như thế trong vòng 1 tháng. Con vật gầy còm, ăn ít, suy nhược, thiếu máu, không tiết sữa, nếu không được chăm sóc và điều trị kịp thời co vật có thể chết do suy kiệt.

3.4.2.4. Chẩn đoán

Dịch tễ :Mùa, tuổi mắc bệnh,gia súc nhập

- Triệu chứng : Sốt cao, liên miên, đái đỏ ( Phân biệt với xoắn trùng, nhiệt thán)

- Dùng kỹ thuật PCR

Nhuộm giem sa: Tìm LDT trong máu

- Kiểm tra ve trên cơ thể tìm LDT

3.4.2.5. Điều trị

- Berenyl, với liều 3 – 3,5 mg/kg thể trọng, pha nồng độ 10-15%, tiêm tĩnh mách lần, nếu sau 2-3 tuần gia súc chưa khỏi thì tiêm liều thứ hai như liều thứ nhất. Trước khi tiêm thuốc nên tiêm các thuốc trợ sức như Vitamin, long não, vitamin Bcomplex; vitamin C; truyền huyết thanh mặn ngọt đẳng trương: 1000ml/100kg thể trọng trâu bò.

-  Imozol với liều: 2 – 3ml/100kg thể trọng trâu bò. Tiêm thuốc dưới da. Tiêm thuốc trợ sức như khi dùng Berennyl

- Haemosporidin, liều dùng 0,0005g/l kg thể trọng, mỗi liều thuốc cho trâu, bò 300-400kg khoảng 150-200mg pha với 30ml nước cất, tiêm chậm vào tĩnh mạch. Nếu gia súc yếu thì chia thuốc làm 2 liều, tiêm 2 lần cách nhau 24 giờ. Trước khi tiêm thuốc cũng tiêm thuốc trợ sức như các loại thuốc trên.

3.4.2.6. Phòng bệnh

 Ở khu vực có lưu hành bệnh phải định kỳ kiểm tra máu trâu bò, phát hiện trâu bò bệnh, điều trị kịp thời.

 Tổ chức tiêm thuốc phòng nhiễm cho đàn trâu bò mới nhập nội bằng một trong 2 hoá dược trên, theo định kỳ: 6 tháng/lần.

 Diệt ve trên thân súc vật, trong chuồng trại và trên bãi chăn bằng thuốc ít độc, theo định kỳ.

 Thuốc thường dùng là: Hantox – spray hoặc Hectomin – 100.

3.5. Bệnh ve

8.5.1. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh do các loại ve ký sinh ngoài da và hút máu trâu bò:
    + Ve cứng ( họ Ixodidae), gồm 7 giống ve như: Bophilus, Ixodes, Aonomma, Amblyomma, Hyalomma, Rhipicephalus, Dermacentor.
      +
 Ve mềm ( họ Argasidae), gồm các giống: Argas, Ornithodoros Otobius.

3.5.2. Chu trình phát triển

Ve: Ve trưởng thành ký sinh và hút máu bò để phát triển và sinh sản. Ve cái sau khi giao phối với ve đực sẽ rời khỏi bò, đẻ trứng ở môi trường tự nhiên. Trứng sau một thời gian dài hay ngắn tuỳ thuộc loài ve sẽ nở thành ấu trùng, ấu trùng phát triển thành trĩ trùng và trĩ trùng bám vào bò là vật chủ cuối cùng để phát triển thành ve trưởng thành.

Thời gian phát triển vòng đời tuỳ thuộc vào loài ve có loài chỉ cần vài tháng song có loài kéo dài 1 - 1,5 năm.

3.5.3. Triệu chứng

Ve ký sinh hút máu trâu bò, làm trâu bò thiếu máu, ngứa, đau, nếu nhiễm nhiều sẽ làm trâu bò giảm ăn, kém ngủ, giảm tăng trọng, giảm sản lượng sữa.
- Ve ký sinh phá hoại các tế bào tổ chức da, giảm chất lượng lông da của trâu bò. Nếu bị ký sinh nhiều và nhiễm kế phát các loại vi khuẩn thì có thể có mủ, nóng sốt và da loét khó lành.
- Ve sống ký sinh còn là tác hại truyền các bệnh ký sinh trùng đường máu nhưBabesia, Theileria, Plasmodium

3.5.4. Chẩn đoán

Bệnh dễ chẩn đoán chỉ cần dựa vào triệu chứng lâm sàn

3.5.5. Điều trị

Định kỳ dùng các loại thuốc diệt ve cho đàn trâu bò (đặc biệt đối với bò, bò sữa) dùng một trong các thuốc sau:

- Hanmectin – 25: 4ml/50kgTT tiêm dưới da

- Hanmectin – 50: 2ml/50kgTT tiêm dưới da

- Hantox spray: Thuốc chứa trong lọ nhựa 300ml cú thể xịt cho bò vào nơi có nhiều ve như gốc đuôi, nách, tai...

Không xịt thuốc vào mắt, mũi bò vì sẽ gây độc.

3.5.6. Phòng bệnh

Thường xuyên tắm chải, bắt ve, vệ  sinh gia súc, chuồng trại sạch sẽ. Ve bắt được phải đem chôn, đốt, không được dùng tay để giết.

3.6. Bệnh giòi da

3.6.1. Nguyên nhân gây bệnh

 Do ấu trùng của các loài ruồi Hypoderma: Hypodemar bovis, H. lincatum, H. acratum…

8.6.2. Chu trình phát triển

Do loài ruồi đẻ trứng trên lông của trâu bò xâm nhập vào da, màng cứng cột sống ( H. bovis)         tồn tại vài tháng lột xác thành larva 2 dài 18-20 mm di hành trở lại lại lưng lột xác lần 2 tạo L3 ( L 3), mỗi đốt mang mấu lồi mập và nhiều gai nhỏ, ngoài ra còn ký sinh ở cơ đùi, chân… Larva sống qua mùa lạnh và mùa đông, sau chui ra da, rơi xuống đất rồi trưởng thành thành ruồi.

3.6.3. Triệu chứng
  -   
Dạng trưởng thành hút máu làm khó chịu, giảm ăn, giảm trọng lượng có thể giảm sữa.
  -    Larva sống trong da gây viêm da, đau ngứa, tổn thương các tổ chức da, viêm thực quản. Da có những u bưới nhỏ đường kính 1cm. Khi Larva ký sinh ở tủy sống có thể gây bại liệt.
-    Gây ung nhọt ở cơ ký sinh, gia súc đau, bên ngoài ung nhọt có lỗ nhỏ nước vàng chảy ra, nếu viêm nhiễm kế phát thì có mủ, loét da, bò giảm trọng lượng, giảm sữa 15-20%, Larva chết gây viêm da, gây phản ứng quá mẫn.

(a)    (b)    (c)    (d)

 Ung nhọt nơi dòi ký sinh (a) ; ấu trùng ký sinh (b), (c) ; Ruồi trưởng thành 

3.6.4. Chẩn đoán

Dựa vào dịch tể mùa vụ : mùa có nhiều ruồi

Dựa vào các triệu chứng lâm sàng : ung nhọt có lỗ nhỏ nước vàng chảy ra

3.5.5. Điều trị

 Nếu có dòi ở vết thương lấy ấu trùng ra, rữa sạch vết thương, sát trùng vết thương 1 trong các sản phẩm sau:

+ DINOSPRAY hoặc VIOLET SPRAY: phun xịt lên vết thương, ngày 2 lần.
 -    Kết hợp dùng một trong các sản phẩm sau để phòng trị:

+ NOVA-MECTIN 0,25%: Tiêm dưới da: 1ml/12 kg thể trọng, 3 tháng tẩy 1 lần, dùng 1 liều.

+ NOVA-MECTIN 1%: 1ml/48 kg thể trọng, 3 tháng tẩy 1 lần.

-    Sử dụng thêm các sản phẩm NOVA-C.VIT  hoặc NOVA-B.COMPLEX hoặc NOVA- ATP COMPLEX để giúp thú mau hồi phục bệnh

3.6.6. Phòng bệnh

 Có thể dùng các thuốc diệt ruồi phun xịt vào các mùa ruồi hoạt động nhiều.

4:  Bệnh truyền nhiễm trên trâu, bò

4.1. Bệnh lở mồm long móng

4.1.1. Đặc điểm của bệnh

Bệnh lở mồm long móng là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan rất nhanh và rất mạnh, rộng cho nhiều loài gia súc, loài nhai lại, heo và người. Bệnh do virus hướng thượng bì, sự thủy hóa các tế bào thượng bì sẽ hình thành các mụn nước ở niêm mạc miệng, lưỡi, da, móng…. Bệnh gây tổn thất lớn về kinh tế.

4.1.2. Nguyên nhân gây bệnh

            Do virus thuộc giống Aphthovirus, họ Picornaviridae có 7 type virus gây bệnh lỡ mồm long móng: O, A, C, S.A.T–1, S.A.T- 2, S.A.T- 3 và ASIA-1. Hiện nay ở nước ta có 2 type gây bệnh là A, O.

+ Sức đề kháng của virus

-    Virus có sức đề kháng mạnh. Ở 600C tồn tại 5-15 phút, ở 1000C virus sẽ chết, từ  0-40C tồn tại 425 ngày, trong đất ẩm virus sống hàng năm, trong thịt ướp lạnh virus tồn tại khá lâu trong phân virus tồn tại 7 ngày, nước tiểu virus tồn tại 39 ngày.

-    Virus dễ bị tiêu diệt bởi các loại thuốc sát trùng của công ty ANOVA như: NOVA-MC.A30, NOVACIDE, NOVADINE, NOVASEPT, NOVAKON và các loại khác như: NaOH 1% diệt virus từ 1-10 phút, formol 2%, nước vôi từ  5-10%.

4.1.3. Dịch tễ học

Bệnh lây qua đường tiêu hóa, đường hô hấp và sinh dục là đường xâm nhập phụ. Sự truyền bệnh trực tiếp do nuôi nhốt chung, chăn thả chung… hoặc lây gián tiếp qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi mang mầm bệnh, người, phương tiện vận chuyển.

-    Loài mắc bệnh: Trâu bò mắc bệnh nhiều nhất, rồi đến các loài sau: heo, dê cừu, thú hoang dã… Bệnh có thể lây qua cho người, các loài một móng, ngựa, gia cầm không mắc bệnh này.

4.1.4. Triệu chứng

Thời gian nung bệnh từ 2-7 ngày, trung bình là 3-4 ngày, gồm 3 thể bệnh
 . Thể thông thường:

-    Bệnh hay gặp ở vùng nhiệt đới, thú ủ rũ, lông dựng, da mũi khô, thú sốt cao 40-41 0C kéo dài 3 ngày.

-    Xuất hiện các mụn nước ở da, vành móng kẻ chân, lưỡi, vú làm thú kém ăn, nhai khó khăn

-    Ở miệng: lưỡi có mụn to ở đầu lưỡi gốc lưỡi ở hai bên lưỡi, xoang trong miệng trong má, lỗ chân răng, môi có mụn lấm tấm bằng hạt ké, hạt bắp. Sau đó mụn vỡ và tạo thành các vết loét đáy nhỏ và phủ màu xám. Nước dãi chảy nhiều như bọt xà phòng.

-   Ở mũi: niêm mạc có mụn nước, đặt biệt là vành mũi có mụn loét, nước mũi lúc đầu trong sau đục dần.

-    Ở chân, kẽ móng có mụn nước từ  trước ra sau, mụn vỡ làm long móng.
  -    Ngoài da : xuất hiện các mụn loét ở vùng da mỏng như bụng, bẹn, vú, ở đầu núm vú … Thú giảm sản lượng sữa, sau sữa đổi thành màu vàng, vắt sữa khó gây viêm vú.

-    Sau khi hàng loạt mụn nước vỡ dần sẽ dẫn đến nhiễm trùng máu, nhiễm trùng da, thú sốt cao, suy nhược dần.

. Thể biến chứng

-    Những biến chứng xảy ra khi điều kiện vệ sinh, chăm sóc kém làm mụn vỡ dẫn đến nhiễm trùng, chân bị long móng, thối móng, thối xương làm thú què. Vú thì bị viêm tắt sữa. Các mụn khác vỡ sẽ gây nhiễm vi khuẩn kế phát, bại huyết. 

-    Bệnh lỡ mồm long móng ghép với các bệnh ký sinh trùng hay vi khuẩn khác có sẵn trong máu (tiêm mao trùng, lê dạng trùng...) có thể làm con vật mau chóng chết.

. Thể ác tính

-    Trên bê nghé ngoài triệu chứng sốt cao, thú bị tiêu chảy và chết đột ngột trước khi xuất hiện các mụn nước ở thượng bì do viêm ruột cấp tính, viêm phổi cấp hoặc viêm cơ tim cấp tính.

4.1.5. Chẩn đoán

Chẩn đoán lâm sàn: Dễ chẩn đoán chỉ cần dựa vào các triệu chứng lâm sàn như: sốt cao, nổi những vết loét ở miệng, bầu vú…

Chẩn đoán phòng thí nghiệm: Lấy máu xét nghiệm

4.1.6. Điều trị

Đây là bệnh cấm điều trị

9.1.7. Phòng bệnh

- Khi phát hiện dịch phải khai báo ngay với các cơ quan thú y và chính quyền địa phương, cách ly thú bệnh, tránh tiếp xúc với thú khỏe và các loài thú khác.

-    Phòng bệnh bằng vệ sinh là rất quan trọng, thường xuyên sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, bãi chăn thả, bằng các loại thuốc sát trùng của ANOVA như: NOVA-MC.A30, NOVACIDE, NOVASEPT, NOVADINE, NOVAKON.

-    Khi xảy ra bệnh phải xử lý thật kỹ toàn bộ chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi bằng các loại thuốc sát trùng, các gia súc mắc bệnh phải tích cực điều trị phụ nhiễm và tránh lây lan bệnh, xác chết phải được xử lý theo các quy định của ngành thú y. Không được phép bán chạy hoặc tự ý giết mổ bán thịt các gia súc mắc bệnh.

-    Định kỳ tiêm phòng bệnh lỡ mồm long móng bằng vaccin (1 năm tiêm 1-2 lần tùy theo vaccin). Vaccin dùng nên lựa chọn vaccin đa giá có 2 type O và A

* Lịch chủng ngừa: Chủng ngừa lần đầu vào lúc 2 tuần tuổi đối với bê nghé từ mẹ chưa tiêm phòng và 50-70 ngày trên bê nghé từ mẹ đã được tiêm phòng bệnh. Sau 3-4 tuần thì tiêm lại lần 2 để nâng cao miễn dịch. Chủng ngừa định kỳ 6 tháng một lần.

4.2. Bệnh tụ huyết trùng

4.2.1. Đặc điểm của bệnh

Bệnh tụ huyết trùng là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan rất nhanh và rất mạnh, rộng cho trâu bò với các biểu hiện như  chết nhanh, kèm theo sốt cao và triệu chứng thần kinh như vật trở nên hung dữ, điên và húc đầu vào tường, hoặc giãy dụa, run rẩy…

4.2.2. Nguyên nhân gây bệnh

Do cầu trực khuẩn Pasteurella boviseptica gây bệnh trên bò, Pasteurella bubaliseptica gây bệnh cho trâu.

. Sức đề kháng của vi khuẩn 

-    Vi khuẩn dễ bị tiêu diệt bởi sức nóng, ánh sáng, các thuốc sát trùng như: NOVA-MC.A30, NOVASEPT, NOVADINE, formol 1%… vi khuẩn sống khá lâu trong đất ẩm. Trong nền chuồng, đồng cỏ chăn thả, đất ẩm ướt thì vi khuẩn có thể sống được hàng tháng.

4.2.3. Dịch tễ học

Lây lan chủ yếu qua đường tiêu hóa, qua thức ăn, nước uống. Ngoài ra vi khuẩn còn xâm nhập dễ dàng nếu niêm mạc có vết thương. Vi khuẩn cũng xâm nhập qua đường hô hấp nhất là đường hô hấp trên.

Loài mắc bệnh: Trâu mắc bệnh mạnh hơn bò. Trâu bò non từ  6 tháng đến 2-3 năm tuổi thì cảm thụ mạnh hơn trâu bò già. Bệnh của trâu bò có thể lây qua cho heo, gà và ngược lại.

4.2.4. Triệu chứng

 Có 3 thể bệnh tụ huyết trùng:

Thể quá cấp tính 

-    Gia súc thường chết nhanh, kèm theo sốt cao và triệu chứng thần kinh như vật trở nên hung dữ, điên và hút đầu vào tường, hoặc giãydụa, run rẩy… nặng thì lăn ra chết, lúc đang ăn thì bỏ chạy như điên và ngã xuống tự lịm đi và chết. Thể này thường xảy ra ở gia súc non từ 6-18 tháng tuổi.

. Thể cấp tính: 

Thời gian nung bệnh ngắn từ 1-3 ngày.

-    Thú không nhai lại, bức rứt khó chịu, sốt cao 40-420C. Niêm mạc mắt mũi ửng đỏ, con vật chảy nước mắt, nước mũi, nước dãi.

+ Trường hợp vi khuẩn xâm nhập vào cơ quan hô hấp: Phổi tụ máu, viêm màng phổi, viêm ngoại tâm mạc, viêm phế quản, con vật ho khan nho nhỏ, nước mũi đặc, khó thở.

+ Trường hợp vi khuẩn xâm nhập vào đường tiêu hóa: Viêm ruột cấp tính, lúc đầu đi táo bón sau đi tiêu chảy có máu. Bụng chướng hơi.
+ Trường hợp vi khuẩn xâm nhập vào hạch lâm ba: Có triệu chứng viêm hạch lâm ba, hạch hầu, hạch dưới hàm, hạch sưng to, chỗ sưng nóng đau, ấn tay vào chổ sưng có vết lõm và giữ nguyên dấu tay, không trở lại bình thường. 

-    Thú sưng hầu, khó thở, dang hai chân để thở, các hạch sưng to, tiểu ra máu, có thể chết do ngạt thở.

-    Bệnh phát triển nhanh từ 3 giờ đến 3-5 ngày thú có thể chết. Trâu chết nhanh hơn bò. Trâu tỷ lệ chết là 90-95 %, bò khoảng 5-10 %.
 . Thể mãn tính 

Bệnh có thể kéo dài đến cuối ổ dịch, vật cũng có thể còn viêm ruột tiêu chảy, viêm phổi ho từng cơn. Bệnh tiến triển từ vài tuần đến vài tháng. Con vật có thể khỏi bệnh nếu được chăm sóc tốt và ngược lại sẽ yếu dần rồi chết.

4.2.5. Chẩn đoán

4.2.6. Điều trị

Phải phát hiện kịp thời, cách ly thú bệnh. Tiến hành điều trị kịp thời. Dùng một trong các thuốc sau

  + NOVASONE: Tiêm bắp 1ml/ 12-15 kg thể trọng, ngày 1 lần trong 3-4 ngày.
  + NOVA –D.O.T: Tiêm bắp 1ml/5-10 kg thể trọng, ngày 1 lần trong 3-4 ngày.
  + NOVA-NORCINE: Tiêm bắp 1ml/20 kg thể trọng, ngày 1 lần trong 4-5 ngày.
  -    Kết hợp với việc tăng cường sức kháng bệnh, giúp thú mau hồi phục bệnh, tăng hiệu quả điều trị bệnh như:

+ NOVASAL: Tiêm bắp 15-20ml/ con/ lần, 2 ngày tiêm một lần cho đến khi hết bệnh.

+ NOVA-C.VIT: Tiêm bắp 1ml/10 kg thể trọng, ngày 1 đến 2 lần cho đến khi hết bệnh.

+ NOVA-B.COMPLEX: Tiêm bắp 10ml/con, ngày 1 lần trong 4-5 ngày.
  -    Khi có triệu chứng sốt cao, khó thở dùng thêm chế phẩm trợ hô hấp, hạ sốt:

+ NOVA-ANA C: Tiêm bắp 10ml/con/lần, ngày 2 lần cho đến khi hết sốt (hoặc dùng NOVA-ANAZINE 20%).  +Trợ hô hấp NOVA-BROMHEXINE PLUS: Tiêm bắp 1ml/10 kg thể trọng, ngày 1 đến 2 lần cho đến khi hết sốt, khó thở.

-    Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, tăng cường việc sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi 2 ngày một lần trong thời gian điều trị bằng một trong các sản phẩm sau: NOVACIDE hoặc NOVASEPT hoặc NOVADINE hoặc NOVA-MC.A30

4.2.7. Phòng bệnh

  Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, vệ sinh thức ăn nước uống, quản lý đàn hợp lý. Định kỳ tiêu độc chuồng trại bằng các loại thuốc sát trùng của ANOVA như: NOVACIDE, NOVASEPT, NOVADINE, NOVA-MC.A30.
  -    Chăm sóc dinh dưỡng cho thú tốt, thường xuyên bổ sung vào thức ăn tinh cho bò sản phẩm NOVA-DAIRY MIX hoặc NOVA-ADE B.COMPLEX hoặc định kỳ tiêm NOVA-B.COMPLEX (1-2 tuần tiêm một lần). 
  -    Phòng bệnh bằng vaccin tụ huyết trùng trâu bò (1 năm tiêm 2 lần).

 


4.3. Bệnh dịch tả

4.3.1. Đặc điểm của bệnh

Bệnh dịch tả trâu, bò là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan mạnh gây tỉ lệ chết cao ở các loài nhai lại, có đặc điểm là gây viêm hoại tử tầng thượng bì niêm mạc; chủ yếu là niêm mạc tiêu hóa.

4.3.2. Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân Bệnh gây ra do virut tả tortor suis. Sức đề kháng của virut kém, bị tiêu diệt khi đun 60 độ C trong vài phút. Nước vôi 10% diệt virut trong 2 giờ

4.3.3. Dịch tễ học

Loài vật mắc bệnh: Trong thiên nhiên trâu, bò nhà và rừng, dê, cừu, hươu nai, lợn nhà và rừng, lạc đà đều bị lây nhiễm và mắc bệnh.

+Mùa bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng tập trung vào đầu mùa hè và mùa thu

+Chất chứa virut: virut thích nghi trên niêm mạc nhất là niêm mạc tiêu hóa. Virut ở trong các tổ chức, các dịch thể như: máu, sữa, mật hoặc trong nước bọt, nước tiểu, phân, trong các phủ tạng như: hạch, lách, phổi, thận.

+ Đường xâm nhập: qua đường tiêu hóa, ngoài ra virut co thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, qua da, từ đó trực tiếp đi vào máu.

+Cách sinh bệnh và lây lan: Virut xâm nhập vào cơ thể, sinh sản nhanh chóng theo đường tuần hoàn làm cho hệ thống bị trúng độc, gây nhiễm trùng máu, phá hoại tế bào nội mạc, gây tụ máu, chảy nước nhớt.

+Virut cũng ảnh hưởng đến tế bào thần kinh trung ương gây sốt cao, ủ rũ nặng. Bệnh có thể lây trực tiếp từ bò bị bệnh sang bò khỏe mạnh và gián tiếp qua các dụng cụ chăn nuôi, thức ăn nước uống có chứa mầm bệnh.

4.3.4. Triệu chứng

Triệu chứng bệnh.

+Thể quá cấp tính:

Vật nuôi phát bệnh trong vòng 12-24 giờ, niêm mạc bắt đầu sung huyết đỏ sẫm, chưa kịp đi lỏng đã chết, nên gọi là “thể dịch tả khô”.

+Thể cấp tính:

Con vật ủ rũ, mệt nhọc kém ăn, sốt cao. Niêm mạc mắt viêm đỏ, có những chấm xuất huyết, con vật chảy nước mắt, có nhiều dử.

• Chảy nước mắt hơi nhày

·         • Chảy nước dãi, có nhiều bọt

·          Hoại tử ở miệng

+Thể mãn tính:

Con vật từ thể cấp, triệu chứng nhẹ dần chuyển sang thể mãn: lông dựng đứng, gầy còm, khi đi tháo thở dốc.

 +Thể ngoài da:

Ban đầu con vật cũng bị loét mồm, mũi, tiêu chảy. Sau đó đi lỏng giảm dần, xuất hiện những mụn nhỏ ở đùi, mông, nách…

4.3.5. Chẩn đoán

Chẩn đoán lâm sàng như sốt cao, loét miệng, tiêu chảy dữ dội, nốt loét ở dạ múi khê, van hồi mang tràng.

+Chẩn đoán dịch tễ: nguồn gốc của bệnh là ở những địa phương có ổ dịch cũ, sự lây lan nhanh của bệnh cũng là căn cứ để chẩn đoán bệnh. +Chẩn đoán virut: Lấy máu con vật bị bệnh tiêm cho bê khỏe. Sau một tuần lễ bê phát bệnh. Con vật bị loét miệng

9.3.6. Điều trị

Chữa nguyên nhân: Chưa có các hóa dược đặc hiệu. Dùng huyết thanh dịch tả trâu, bò: huyết thanh có tác dụng khi con vật mới mắc bệnh. Khi con vật đã đi ỉa chảy, huyết thanh có ít tác dụng.

+Theo quy định của cơ quan dịch tễ Quốc tế, trâu bò bị bệnh phải tiêu hủy và tiêu độc triệt để nơi có dịch.

9.3.7. Phòng bệnh

Vệ sinh phòng bệnh:

 +Khi chưa có dịch: tăng cường vệ sinh thức ăn, nước uống. Tiêm phòng vacxin, kiểm dịch thú y tôt.

+Khi có dịch xảy ra: Kiểm tra trâu, bò ốm để xử lí. Tiêm huyết thanh dịch tả trâu bò cho những con mắc bệnh và xung quanh ổ dịch. Xử lí xác chết vì bệnh cẩn thận, đổ vôi sát trùng. Tẩy uế chuồng trại và địa điểm có trâu, bò ốm hoặc chết.

§Vacxin phòng bệnh: tiêm vacxin dịch tả trâu, bò tại nơi có ổ dịch cũ và vacxin xung quanh ổ dịch, các địa phương nằm trên các trục giao thông lớn hoặc các biên tỉnh giới.

4.4. Bệnh nhiệt thán

4.4.1. Đặc điểm của bệnh

Bệnh nhiệt thán (bệnh than) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, cấp tính, sốt cao ở hầu hết động vật máu nóng, trong đó có người, gây do Bacillus anthracis. Bệnh đặc trưng với nhiễm trùng máu và chết rất nhanh.

4.4.2. Nguyên nhân gây bệnh

Bacillus anthracis là vi khuẩn Gram(+), hình que, tạo nha bào. Sau khi thoát khỏi cơ thể con bệnh hay xác chết bị mở ra, vi khuẩn tiếp xúc với oxy không khí và tạo nha bào.Nha bào rất bền vững với nhiệt độ cao (100oC không diệt được nha bào trong 10 phút) và hóa chất tiêu độc và có thể tồn tại hàng vài chục năm.

Bệnh nhiệt thán gây bệnh ở người và gia súc khắp mọi lục địa trên thế giới. Ở Vịêt Nam, bệnh nổ ra khắp mọi miền, từ những ổ dịch hay mộ chôn gia súc bệnh mấy chục năm trước.

 

4.4.3. Dịch tễ học

·         Đường lây bệnh

 - Chủ yếu qua đường tiêu hoá do thức ăn, nước uống có nhiễm nha bào nhiệt thán

- Có thể lây qua đường hô hấp (do hít phải bụi có nha bào), hoặc do ăn thịt , tiếp xúc với sản phẩm gia súc bị bệnh máu khó đông máu đen

- Độc tố tác động đến gan làm mất yếu tố đông

·         . Cơ chế sinh bệnh

- Nha bào sau khi xâm nhập vào cơ thể “nảy mầm” thành VK. VK nhanh chóng nhân lên và cướp chất dinh dưỡng của vật chủ, sau đó tiết độc tố và vào hệ tuần hoàn để đến các cơ quan bộ phận khác

- Trong hệ tuần hoàn, độc tố của VK phá hủy thành mạch làm xuất huyết, thấm tương dịch vào cơ quan tổ chức gây bại huyết

- VK sinh sản nhiều, cướp Oxi của vật chủ, con vật thường chết do ngạt thở

4.4.4. Triệu chứng

Có trường hợp con vật mắc bệnh nhiệt thán có thể trạng bình thường đột ngột chết (có khi 2-3 giờ), khi chưa biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Nhưng thường thì con bệnh biểu hiện điên cuồng, sốt cao (40oC-42oC), run sợ sau đó suy sụp, khó thở, đi lại siêu vẹo và co giật trước khi chết trong vòng 1-2 ngày.

Sau khi chết, máu không đông chảy từ những lỗ tự nhiên (hậu môn, âm đạo, miệng, mũi...), cũng như phù thũng ở nhiều nơi trên cơ thể. Sau khi chết, cơ thể con vật bị phân huỷ rất nhanh.

 

Biến đổi bệnh lý

Sau khi chết bụng chướng to, lòi dom, lè lưỡi, các lỗ tự nhiên như mồm, mũi, hậu môn, âm hộ chảy dịch nhầy lẫm máu tím sẫm khó đông hoặc không đông; hạch hầu, hạch trước vai, hạch đùi sưng to tụ máu, dưới da có nhiều dịch vàng, thịt tím tái thẫm máu, lách sưng to, tím sẫm và nát nhũn như bùn. Máu đen không đông ở các xoang cơ thể. Trên da có nhiều ung nhọt ở vùng cổ, ngực, mông. Lúc đầu, những ung nàysưng, nóng, đỏ, đau; sau lạnh dần, không đau, có lúc hình thành mụn loét màu đỏ thẫm, chảy nước vàng.

4.4.5. Chẩn đoán

Dựa vào triệu chứng lâm sàng mô tả trên.

Xét nghiệm dưới kính hiển vi tìm vi khuẩn hình que trên phiến kính máu nhuộm Gram.

Chẩn đoán huyết thanh học bằng phản ứng kết tủa Ascoli.

4.4.6. Điều trị

Do bệnh tiến triển nhanh nên chữa bệnh đôi khi không thể thực hiện được. Dùng kháng huyết thanh nhiệt thán (100-200 ml/bò) can thiệp sớm sẽ chữa khỏi song giá thành cao. Nhưng nếu chẩn đoán đúng và sớm dùng liều cao Penicillin G (2-3 MIU/100 kg TT.) hay tiêmHanoxylin LA (10 ml/100 kg TT.), Han-Stapen... sẽ có hiệu quả chữa khỏi bệnh.

4.4.7. Phòng bệnh

Không được mổ thịt, tiêu thụ thịt và sản phẩm động vật ốm, chết.

Không chăn thả gia súc gần mả chôn xác gia súc chết do bệnh nhiệt thán.

Tiêm phòng vacxin mang lại hiệu quả cao phòng bệnh, nhất là vùng nguy cơ tiềm ẩn dịch. Tiêm vacxin nhược độc dưới da vùng cổ 1 ml/bò. Mỗi năm tiêm 2 lần, 2-4 tuần trước mùa phát dịch. Miễn dịch đạt bảo hộ sau 10-14 ngày. Không dùng kháng sinh trước và sau khi tiêm vacxin 10-15 ngày.

Nếu xác bò bệnh vô tình bị mổ ra, lá lách sưng to và có nhiều dịch, máu không đông trong các xoang cơ thể có thể nghi ngờ là bệnh nhiệt thán. Trong trường hợp này, phải báo ngay cho cơ quan thú y gần nhất để chẩn đoán, xét nghiệm, tìm vi khuẩn và nha bào. Nếu là bệnh nhiệt thán, nghiêm cấm vận chuyển, đi lại và tuyệt đối không được mổ xác chết hay dây máu, dịch ra môi trường, mà phải áp dụng ngay những biện pháp đặc biệt để xử lý xác chết, tiêu độc khử trùng không để tồn tại nha bào.

 

 

 

 


Kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh cho heo

Course categoryBộ môn Nông nghiệp

Mục tiêu mô đun:

Kiến thức:

- Biết được đặc điểm sinh học các giống heo thường được nuôi hiện nay.
- Nắm được khả năng sản xuất của từng giống heo.

-Biết được nhu cầu dinh dưỡng và các loại thức ăn phù phợp cho heo.
- Biết cách kiểm tra, bảo quản và sử dụng thức ăn để đạt chi phí thức ăn thấp nhất cho
mỗi đơn vị tăng trọng.

- Biết được thông sô kỹ thuật chuồng nuôi heo

- Biết được đặc điểm sinh lý heo ở từng giai đoạn.

Kỹ năng:

- Lựa chọn được giống heo phù hợp cho điều kiện chăn nuôi từng địa phương
- Thực hiện kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc và phòng bệnh cho heo đạt kết quả tốt
-  Chẩn đoán và điều trị được các bệnh thường hay xảy ra cho heo và đề xuất các biện
pháp phòng ngừa bệnh hiệu quả.

Năng lực tự chủ và trách nhiệm:

Trau dồi tính yêu thích nghề nghiệp, rèn luyện tính cần cù cẩn thận trong chăn nuôi và phòng bệnh cho heo.


Giống vật nuôi

Course categoryBộ môn Nông nghiệp

+ Kiến thức:

- Nắm vững các quy luật phát triển ở vật nuôi để làm cở sở ứng dụng trong chăn nuôi.

- Nắm vững các đặc điểm về ngoại hình – thể chất theo các hướng sản xuất

- Nắm vững các phương pháp chọn giống  để làm cơ sở chọn lọc vật giống trong chăn nuôi.

- Nắm vững các kiến thức về các phương pháp chọn phối và nhân giống

+ Kỹ năng: :

- Thực hiện được các phương pháp phối giống để tránh đồng huyết và tạo ra đời con chất lượng tốt.

- Xác định được các hệ thống nhân giống vật nuôi và biết cách quản lý con giống

- Đánh giá xếp cấp vật nuôi thành thạo

- Chọn được vật nuôi theo các hướng sản xuất

+ Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Cẩn thận, làm việc nhiệt tình, khách quan trong việc đánh giá ngoại hình thể chất của gia súc, gia cầm


Vi sinh vật trong thú y

Course categoryBộ môn Nông nghiệp

- Về kiến thức:  Hiểu biết được hình dạng và vai trò của vi sinh vật trong đời sống con người và vật nuôi

- Về kỹ năng: Nhận dạng được các vi sinh thường gặp

- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: thận trọng khi làm việc với các vi sinh vật


Kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh cho trâu bò

Course categoryBộ môn Nông nghiệp
+ Kiến thức: - Hiểu được đặc điểm sinh học của trâu, bò - Hiểu được nguồn gốc, đặc điểm, khả năng sản xuất của các giống trâu, bò thường được nuôi trên thế giới và trong nước - Hiểu được đặc điểm của trâu, bò đạt được yêu cầu theo hướng sản xuất khác nhau. - Nắm được nhu cầu, tính toán được diện tích, cách thiết kế chuồng trai trâu, bò cho phù hợp - Tính toán được nhu cầu dinh dưỡng của từng loại trâu, bò; Chọn nguyên liệu phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của trâu, bò - Nắm được kỹ thuật chăn nuôi trâu bò cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển - Nắm được nguyên nhân, triệu chứng, bệnh tích, cách phòng và trị các bệnh trường gặp trên trâu, bò + Kỹ năng: - Phân biệt và nêu tên được các giống dê, thỏ - Thiết kế được chuồng trâu bò đạt yêu cầu - Sản xuất chế biến thức ăn cho trâu, bò đảm bảo yêu cầu kỹ thuật - Thực hiệnđược qui trình chăm sóc nuôi dưỡng trâu bò đúng kỹ thuật - Thực hiện được việc chẩn đoán, phòng và trị các bệnh trường gặp trên trâu, bò. + Năng lực tự chủ và trách nhiệm:Trau dồi tính yêu thích nghề nghiệp, rèn luyện tính cần cù cẩn thận trongnuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho trâu, bò


VI SINH VẬT THÚ Y

Course categoryNăm 2025

. Mục tiêu môn học:

- Về kiến thức: Trình bày đươc hình thái, cấu tạo, quá trình sinh trưởng, quá trình trao đổi chất của giới vi sinh vật; Mô tả được đặc tính sinh học, cách thức gây bệnh của các vi sinh vật thường gặp.

- Về kỹ năng: Nhận dạng được các vi sinh thường gặp; Thực hiện phân lập, nuôi cấy vi khuẩn; Nuôi cấy virus, nấm.

- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Thận trọng, nghiêm túc, chính xác khi làm việc với các vi sinh vật; Đảm bảo vệ sinh, sạch sẽ trong quá trình làm việc.

Chương 1:   Đại cương về vi sinh vật

11. Giới thiệu

1.1. Đối tượng và nhiệm vụ môn học

Vi sinh vật học (microbiology) là một môn khoa học nghiên cứu về sự sống của vi sinh vật (Từ tiếng Hylạp: mikros là nhỏ bé, bios là sự sống, logos là khoa học). Như vậy vi sinh vật bao gồm cả vi khuẩn, động vật nguyên sinh và vi nấm. Nhưng động vật nguyên sinh và vi nấm là những tế bào có màng nhân (Eukaryote) và được xếp vào môn học Ký sinh trùng. 

Vi khuẩn là những đơn bào không có màng nhân (Procaryote), vi khuẩn có đầy đủ tính chất của một sinh vật. Vi khuẩn quan sát được ở kính hiển vi quang học. 

Virus là hình thái vật chất sống đặc biệt không có cấu trúc tế bào, kích thước rất nhỏ, phải quan sát ở kính hiển vi điện tử mới nhìn thấy được

Rickettsia, chlamydia, mycoplasma là những vi sinh vật trung gian giữa vi khuẩn và virus. Kích thước nhỏ hơn vi khuẩn nhưng ký sinh bắt buộc vào tế bào cảm thụ. Rickettsia có nhiều tính chất giống vi khuẩn: có cấu trúc tế bào, 2loại acid nucleic nhưng thiếu một số men hô hấp năng lượng

1.2. Sơ lược lịch sử phát triển môn học

1.2.1. Giai đoạn phát hiện

 Quá khứ: Loài người trải qua nhiều vụ dịch - không biết nguyên nhân

-         Về sau phát hiện ra tính chất lây lan thành dịch bệnh.

-         1776          Antoni Van Leuwenhoek: KHV - Lần đầu tiên thấy hình thể những sinh vật nhỏ bé trong nước. Khái niệm VSV lần đầu xuất hiện nhưng không được quan tâm, loài người khi đó cho rằng VSV không có vai trò gì.

1.2.2. Giai đoạn hình thành

Louis Pasteur (1822-1895): Sáng lập chuyên ngành VSV và MD học

  • Chứng minh VSV là nguyên nhân bệnh truyền nhiễm (Thí nghiệm 30/4/1878 tại Viện Hàn lâm khoa học Pari trên 2 lô cừu, một lô gây nhiễm canh khuẩn nhiệt thán đắp trên da đã chà xát gây xước và lô đối chứng đắp nước muối sinh lý, kết quả lô thí nghiệm đắp canh khuẩn bị bệnh). Thí nghiệm này mở đường cho nhiều phát hiện ra căn nguyên khác gây bệnh truyền nhiễm. Quan niệm của loài người về VSV thay đổi và trở nên sợ hãi chúng.
  • Tìm ra nguyên lý phòng bệnh bằng vacxin và sáng tạo ra phương pháp chế tạo vacxin (tả gà, than, dại - 1885).

-         Robert Koch (1843-1910): Môi trường đặc và VK lao

-         Fleming (1881 - 1955): phát hiện Penicilline năm 1929

-         Ivanovski (1864-1920): Virus

-         1998, Prusiner: Prion

1.2.3. Giai đoạn phát triển

Trong những thập kỷ gần đây từ một khoa học ứng dụng, vi sinh vật học đã trở thành một khoa học cơ bản làm phát sinh một ngành khoa học mới: sinh học phân tử và dưới phân tử và cùng với các ngành khoa học khác tạo nên một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại.

Nhờ những hiểu biết về di truyền học hiện đại mà mô hình nghiên cứu là E.coli, Watson và Crick đã phát hiện mẫu cấu trúc của ADN và cơ chế sao chép bán bảo tồn làm cơ sở cho sự hình thành sinh học phân tử và dưới phân tử. Những phát hiện kỳ diệu về cơ cấu của mã di truyền và các cấu trúc khác của tế bào sống được sử dụng làm cơ sở cho sự phát triển công nghiệp sinh học, ngành công nghiệp cho phép con người can thiệp vào quá trình hình thành và phát triển của sinh vật để phục vụ lợi ích của con người .

Gần đây những kỹ thuật tổng hợp gen, tháo ghép gen làm cho công nghệ sinh học trở thành một lực lượng sản xuất mũi nhọn của nền kinh tế thế giới. Trong lĩnh vực y học những kỹ thuật trên có nhiều triển vọng giải quyết các bệnh di truyền, phòng chống các bệnh nhiễm trùng, bệnh ung thư.

1.3. Vai trò của vi sinh vật

1.3.1. Trong tự nhiên

Trong thiên nhiên: Vi khuẩn tham gia vào tuần hoàn CO[sub]2[/sub] và chuyển hoá Nitơ, hai chu trình có ý nghĩa quyết định cho sự sống của mọi sinh vật trên trái đất. Trong không khí có nhiều Nitơ, động vật và thực vật không thể trực tiếp sử dụng chất đạm đó. Nhờ có vi khuẩn mà khí đạm được biến thành muối vô cơ mang đạm. Thực vật có thể hấp thu những chất này tạo nên những chất hoá hợp hữu cơ của thực vật, rồi tiếp đó là tạo thành anbumin động vật, để sự sống tiếp diễn không ngừng. Khi động, thực vật chết, vi khuẩn làm thối rữa, các chất hữu cơ sinh vật lại được hoàn trả lại cho đất.

 

1.3.2. Trong đời sống con người.

Trong công nghiệp: Từ cổ xưa. khi loài người chưa hiểu biết về vi sinh vật nhưng đã biết muối dưa, muối cà, làm tương làm mắm..Sau này người ta biết nấu rượu, làm bia, bành mì, nem chua. Các sản phẩm này đều cần có qúa trình lên men của vi sinh vật. Ngày nay công nghệ sinh học đã đem lại cho con người nhiều lợi ích và là cuộc cách mạng khoa học cách mạng kỹ thuật rất lớn. Vi sinh vật là một công cụ được sử dụng nhiều trong công nghệ sinh học.
Trong nông nghiệp: Trong đất có một số vi sinh vật có khả năng cố định đạm vô cơ thành đạm hữu cơ và một số vi sinh vật có khả năng quang hợp. Những khả năng này làm giàu dinh dưỡng cho đất, làm ải đất giúp cho cây trồng phát triển tốt.

Trong y học: Vi sinh vật được dùng để sản xuất kháng sinh, sản xuất vaccin và huyết thanh miễn dịch. Đó là những sản phẩm quan trọng được dùng trong việc phòng và điều trị các bệnh do vi sinh vật. Ngày nay, vi sinh vật còn là mô hình để nghiên cứu về di truyền phân tử, hoá sinh học… do vi sinh vật có số lượng gen ít, phát triển nhanh.

*. Tác dụng có hại của vi sinh vật: 

Mặc dù vi sinh vật có nhiều lợi ích đối với đời sống con người song tác hại của nó là rất đáng kể. vi sinh vật là căn nguyên của các bệnh nhiễm khuẩn gây tổn hại đến sức khoẻ con người, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Trên thế giới đã có nhiều bệnh dịch gây chết người hàng loạt như dịch tả, dịch hạch hoặc nhiều bệnh nguy hiểm do virus gây nên.

Ngày nay, vi sinh vật gây ô nhiễm môi trường như ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí… đang là vấn đề bức xúc đối với xã hội. Vì vậy mà các bệnh nhiễm khuẩn ngày càng gia tăng ở các nước kém phát triển.
Ngoài ra, vi sinh vật cũng gây ảnh hưởng lớn đối với đời sống sinh hoạt của con người như phân giải thức ăn, thực phẩm, lương thực, phá huỷ đồ dùng…
Hiện nay, những vấn đề của vi sinh vật y học đang được con người đặc biệt quan tâm và được coi là vấn đề toàn cầu như xuất hiện những vi sinh vật gây bệnh chết người hoặc ảnh hưởng đến tính mạng mà ít có biện pháp điều trị có hiệu quả như: HIV/AIDS, virus Ebola, bệnh bò điên, virus gây khối u, virus gây ung thư… Mặt khác, vi khuẩn kháng kháng sinh cũng là vấn đề nổi cộm của y tế các nước. Các vi khuẩn là căn nguyên gây bệnh thường gặp cũng là những vi khuẩn kháng thuốc mạnh nhất như: tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn đường ruột… Đây là một cản trở lớn trong điều trị các bệnh do vi khuẩn. 

*. Vai trò của ngành vi sinh vật học.

 + Chẩn đoán bệnh:

 Vai trò rất lớn của ngành vi sinh vật học là chẩn đoán chính xác các bệnh nhiễm khuẩn, truyền nhiễm. Đó là việc tìm vi sinh vật gây bệnh trong các bệnh phẩm như: đờm, máu, mủ, dịch, phân…hoặc lấy huyết thanh bệnh nhân chẩn đoán miễn dịch.

+. Dự phòng các bệnh truyền nhiễm:

Các bệnh truyền nhiễm ngày nay đã được giảm rất nhiều và một số bệnh đã được thanh toán như: bại liệt, dịch hạch, đậu mùa... Đó là kết quả của việc đã sản xuất ra các loại vaccin phòng bệnh, góp phần đáng kể trong công tác phòng chống các dịch bệnh.

+. Điều trị bệnh:

Ngành vi khuẩn học đã điều chế ra các kháng huyết thanh để điều trị bệnh như kháng độc tố bạch hầu, uốn ván hoặc tổng hợp ra các loại kháng sinh điều trị các bệnh do vi khuẩn.

2. Hình thái và cấu tạo của vi sinh vật

2.1. Vi khuẩn

2.1.1. Hình thái – Kích thước

Vi khuẩn là những sinh vật đơn bào rất nhỏ có cấu trúc và hoạt động đơn giản hơn nhiều so với các tế bào khác. Mỗi loại vi khuẩn có hình dạng và kích thước nhất định. Với các phương pháp nhuộm soi thông thường có thể xác định được hình thể và kích thước của vi khuẩn. Khi xác định vi khuẩn, hình thể là tiêu chuẩn quan trọng đầu tiên. Kích thước của vi khuẩn được đo bằng đơn vị micromet (1mm = 1/1000mm). Tùy theo từng loại vi khuẩn mà có kích thước khác nhau. Thường cầu khuẩn có kích thước nhỏ, xoắn khuẩn có kích thước dài. Tuy nhiên, ngay trong cùng một loại vi khuẩn cũng có kích thước khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện tồn tại của chúng. Về hình thể, người ta chia vi khuẩn làm 3 nhóm chính: 

+. Cầu khuẩn (cocci):

Là những vi khuẩn hình cầu, cũng có thể hình hơi bầu dục hoặc hình ngọn nến. Khi 2 vi khuẩn hình cầu đứng giáp nhau thì thường không tròn nữa mà chỗ tiếp giáp thường dẹt lại như các song cầu. Đường kính trung bình của các cầu khuẩn khoảng 1mm. Nhóm cầu khuẩn lại được chia làm một số loại: 

- Song cầu (Diplococci): Là những cầu khuẩn đứng thành từng đôi. Những cầu khuẩn gây bệnh thường gặp là phế cầu (Streptococcus pneumoniae), lậu cầu (Neisseria gonorrhoeae) và não mô cầu(Neisseria meningitidis). Có thể gặp nhiều đôi song cầu đứng nối với nhau thành chuỗi.

- Liên cầu (Streptococci): Là những cầu khuẩn đứng liên tiếp với nhau thành từng chuỗi.
- Tụ cầu (Staphylococci): Là những cầu khuẩn đứng tụ lại với nhau thành từng đám như chùm nho.

. Trực khuẩn:

Trực khuẩn là những vi khuẩn hình que, hai đầu tròn hoặc vuông, có thể 1hoặc 2 đầu phình to. Kích thước rộng khoảng 1mm, dài 2-5 mm. Những trực khuẩn không gây bệnh có kích thước lớn hơn. Trực khuẩn được chia 3 loại:

- Bacteria: Là những trực khuẩn không sinh nha bào. Đa số trực khuẩn gây bệnh thuộc loại này như nhóm trực khuẩn đường ruột.

- Bacilli: Là những trực khuẩn hiếu khí sinh nha bào. Trực khuẩn than là vi khuẩn quan trọng thuộc nhóm này.

- Clostridia: Là những trực khuẩn kỵ khí sinh nha bào. Các vi khuẩn gây bệnh quan trọng thuộc nhóm này như: trực khuẩn uốn ván, trực khuẩn gây bệnh ngộ độc thịt, trực khuẩn gây bệnh hoại thư sinh hơi.

. Xoắn khuẩn (Spirochaetales)

Xoắn khuẩn là những vi khuẩn hình sợi lượn sóng và di động, chiều dài trung bình từ 12-20mm, có thể dài tới 30mm, thường gặp 3 loại:

- Xoắn khuẩn uốn thành từng khúc cong không đều nhau như xoắn khuẩn sốt hồi quy. Xoắn khuẩn với những vòng xoắn hình sin đều nhau như xoắn khuẩn giang mai. Xoắn khuẩn có những vòng xoắn không đều nhau và 2 đầu cong luôn cử động như Leptospira.

2.1.2. Cấu tạo tế bào

+. Cấu trúc tế bào: Dưới kính hiển vi điện tử, tế bào vi khuẩn được quan sát gồm các thành phần sau: 

. Nhân (nuclear body) Nhân của tế bào vi khuẩn không có màng nhân, nhân có cơ quan chứa thông tin di truyền, đó là một nhiễm sắc thể độc nhất tồn tại trong nguyên sinh chất. Là một phân tử ADN nếu kéo dài có chiều dài khoảng 1mm chứa khoảng 3000gen.

. Nguyên sinh chất (cytoplasm) Nguyên sinh chất của tế bào vi khuẩn thường đơn giản hơn so với các tế bào khác, không có dòng chuyển động nội bào. Nước chiếm 80% dưới dạng gel. Nguyên sinh chất bào gồm các thành phần hoà tan như protein, peptid, acid amin, vitamin, ARN, ribosom, muối khoáng… Ribosom

. Màng nguyên sinh:  bao bọc quanh nguyên sinh chất và nằm trong vách tế bào vi khuẩn. Màng gồm 3 lớp: một lớp sáng (lớp lipid) ở giữa 2 lớp tối (lớp phospho). Thành phần hoá học của màng gồm 60% protein, 40% lipid mà chủ yếu là phospholipid. Màng chiếm 20% trọng lượng của tế bào. Độ dày mỏng của màng phụ thuộc vào từng loại tế bào. 

.Vách (cell wall)Vách có ở tất cả các loại vi khuẩn trừ Mycoplasma. Vách là màng cứng bao bọc xung quanh vi khuẩn ngoài màng nguyên sinh. Vách được cấu tạo bởi glycopeptid. Ở vi khuẩn gram (+) vách có cấu tạo đơn giản nhưng dày, ở vi khuẩn gram (-) vách mỏng hơn nhiều nhưng cấu tạo phức tạp..

- Vách quyết định tính chất kháng nguyên thân của vi khuẩn. Các thành phần hoá học của lớp ngoài cùng vách quyết định tính chất đặc hiệu của kháng nguyên này.

- Vách là nơi mang các điểm tiếp nhận (receptor) đặc hiệu cho các thực khuẩn thể ( phage) khi xâm nhập và gây bệnh cho vi khuẩn.

+ Vỏ (Capsule)Một số vi khuẩn có khả năng hình thành vỏ trong những điều kiện nhất định. Vỏ của vi khuẩn là một lớp nhầy không rõ rệt bao bọc xung quanh vi khuẩn, vỏ có bản chất hoá học khác nhau tuỳ từng loại vi khuẩn. Đa số vi khuẩn có vỏ là polysaccharid như vỏ của E.coli, phế cầu.. Một số vỏ là polypeptid như vi khuẩn dịch hạch, trực khuẩn than. Vỏ có thể dày hoặc mỏng tuỳ theo từng vi khuẩn

Lông (Flagella)Chỉ có một số vi khuẩn mới có lông, lông là cơ quan vận động của vi khuẩn. Vị trí lông của các loại vi khuẩn rất khác nhau. Một số chỉ có một lông ở một đầu như phẩy khuẩn tả, nhiều vi khuẩn có lông ở xung quanh thân như: E.coli, Salmonella, một vài vi khuẩn có một chùm lông ở đầu.

. Pili: Pili là một bộ phận gần giống như lông, nó có thể mất đi mà không ảnh hưởng tới sự tồn tại của vi khuẩn.

- Pili chung: Là những pili dùng để vi khuẩn bám, là một sợi ngắn và thẳng cũng xuất phát từ vách. Mỗi vi khuẩn có hàng trăm pili này. Pili liên quan đến khả năng gây bệnh của vi khuẩn, mất pili vi khuẩn không thể gây bệnh như lậu cầu khuẩn. Pili còn là chỗ bám của một số phage để phage bơm vật liệu di truyền vào vi khuẩn.
+ Nha bào:Ở một số loại vi khuẩn, trong điều kiện sống không thuận lợi vi khuẩn có khả năng tạo nha bào. Nha bào là hình thức tồn tại đặc biệt của vi khuẩn.

2.3. Vi nấm

2.3.1. Nấm men

Hình thái và kích thước

Nấm men thường có hình cầu hoặc hình bầu dục, một số loại có hình que và một số hình dạng khác. Kích thước trung bình của nấm men là 3 - 5 x 5 - 10μm. Một số loài nấm men sau khi phân cắt bằng phương pháp nảy chồi, tế bào con không rời khỏi tế bào mẹ và lại tiếp tục mọc chồi. Bởi vậy nó có hình thái giống như cây xương rồng khi quan sát dưới kính hiển vi.

 

Cấu tạo tế bào

Khác với vi khuẩn và xạ khuẩn, nấm men có cấu tạo tế bào khá phức tạp, gần giống như tế bào thực vật. Có đầy đủ các cấu tạo thành tế bào, màng tế bào chất, tế bào chất, ty thể, riboxom, nhân, không bào và các hạt dự trữ.

Vai trò của nấm men

Nấm men là nhóm vi sinh vật phân bố rộng rãi trong thiên nhiên, nó tham gia vào các quá trình chuyển hoá vật chất, phân huỷ chất hữu cơ trong đất. Hoạt tính sinh lý của nhiều loài nấm men được ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp và các ngành khác. Đặc biệt trong quá trình sản xuất các loại rượu, cồn, nước giải khát lên men, làm thức ăn gia súc ... Ngoài hoạt tính sinh lý, bản thân tế bào nấm men có rất nhiều loại vitamin và các axit amin, đặc biệt là axit amin không thay thế. Đặc tính này được dùng để chế tạo thức ăn gia súc từ nấm men, thậm chí thức ăn dùng cho người cũng có thể chế tạo từ nấm men.

2.3.2. Nấm mốc

Nấm mốc cũng thuộc nhóm vi nấm, có kích thước hiển vi. Khác với nấm men, có không phải là những tế bào riêng biệt mà là một hệ sợi phức tạp, đa bào có màu sắc phong phú.

Hình thái và kích thước

Nấm mốc có cấu tạo hình sợi phân nhánh, tạo thành một hệ sợi chằng chịt phát triển rất nhanh gọi là khuẩn ti thể hay hệ sợi nấm. Chiều ngang của khuẩn ti thay đổi từ 3 - 10 μm. Nấm mốc cũng có 2 loại khuẩn ti: khuẩn ti khí sinh mọc trên bề mặt môi trường, từ đây sinh ra những cơ quan sinh sản. Khuẩn ti cơ chế mọc sâu vào môi trường.

Khuẩn lạc của nấm mốc cũng có nhiều màu sắc như khuẩn lạc xạ khuẩn. Khuẩn lạc nấm mốc khác với xạ khuẩn ở chỗ nó phát triển nhanh hơn, thường to hơn xạ khuẩn ở chỗ nó phát triển nhanh hơn, thường to hơn khuẩn lạc xạ khuẩn nhiều lần. Dạng xốp hơn do kích thích khuẩn ti to hơn. Thường thì mỗi khuẩn lạc sau 3 ngày phát triển có kích thước 5 - 10 mm, trong khi đó khuẩn lạc xạ khuẩn chỉ khoảng 0,5 - 2 mm.

2.4. Virus

2.4.1. Khái niệm

Virus, còn được viết là vi-rút (bắt nguồn từ từ tiếng Pháp virus /viʁys/), cũng còn được gọi là siêu visiêu vi khuẩn hay siêu vi trùng, là một tác nhân truyền nhiễm chỉ nhân lên được khi ở bên trong tế bào sống của một sinh vật khác. Virus có thể xâm nhiễm vào tất cả các dạng sinh vật, từ động vậtthực vật cho tới vi khuẩn và vi khuẩn cổ.

Các phần tử (hay hạt) virus (được gọi là virion) được tạo thành từ hai hoặc ba bộ phận nhưng chủ yếu là 2 bộ phận là vỏ và nhân.

2.4.2. Cấu tạo

Tất cả các virus đều có cấu tạo gồm hai thành phần cơ bản: lõi là acid nucleic (tức genom) và vỏ là protein gọi là capsid, bao bọc bên ngoài để bảo vệ acid nucleic. Phức hợp bao gồm acid nucleic và vỏ capsid gọi là nucleocapsid hay xét về thành phần hoá học thì gọi là nucleoprotein. Đối với virus ARN thì còn gọi là ribonucleoproteinGenom của virus có thể là ADN hoặc ARN, chuỗi đơn hoặc chuỗi kép, trong khi genom của tế bào luôn là ADN chuỗi kép, và trong tế bào luôn chứa hai loại acid nucleic, ADN và ARN..

2.4.3. Hình thái

 Virut chưa có Gấu tạo tế bào nên mỗi virut thường được gọi là hạt. Hạt virut có 3 loại cấu trúc : xoắn, khối và hỗn hợp (hay phức tạp).


Hình : Hình thái của một số virut Dạng khối : A - Virut bại liệt, mụn cơm...; B - Virut hecpet; Dạng xoắn : c - Virut đốm thuốc lá ; D - Virut cúm ;
E - Virut sởi, quai bị; G - Virut dại;
Dạng hỗn hợp : H - Virut đậu mùa ; I - Phagơ T2 .

- Cấu trúc .xoắn : Capsôme sắp xếp theo chiều xoắn của axit nuclêic. Cấu trúc xoắn thường làm cho virut có hình que hay sợi (virut khảm thuốc lá, virut bệnh dại) nhưng cũng có loại hình cầu (ví dụ : virut cúm, virut sởi).
- Cấu trúc khối: Capsôme sắp xếp theo hình khối đa diện với 20 mặt tam giác đều (ví dụ : virut bại liệt).

- Cấu trúc hỗn hợp : Ví dụ phagơ (virut kí sinh ở vi khuẩn còn gọi là thể thực khuẩn) có cấu tạo giống con nòng nọc. Đầu có cấu trúc khối chứa axit nuclêic gắn với đuôi có cấu trúc xoắn (hình 29.2).
Năm 1957. Franken và Conrat đã tiến hành thí nghiệm tách lõi ARN ra khỏi vỏ prôtêin của hai chủng virut A và B. Cả hai chủng đều có khả năng gây bệnh cho cây thuốc lá nhưng khác nhau ở các vết tổn thương trên lá. Lấy axit nuclêic của chủng A trộn với prôtêin của chủng B thì chúng sẽ tự lắp ráp để tạo thành virut lai. Nhiễm chủng virut lai vào cây thì cây sẽ bị bệnh. Phân lập từ lá cây bị bệnh sẽ được chủng virut A

2.4.4. Phân loại

Bộ virus (order).

Bộ là đại diện cho các nhóm ghép của các họ, có các đặc điểm chung khác biệt với các bộ và họ khác. Các bộ được ký hiệu bởi những vĩ tố (suffixe) -virales. Có một bộ đã được ICTV chấp thuận là Mononegavirales bao gồm các họ Paramyxoviridae, Rhabdoviridae và Filoviridae. Đó là các virus ARN đơn, âm, không phân đoạn và có vỏ ngoài.

Họ virus (family).

Họ là đại diện cho các nhóm ghép của các chi, có các đặc điểm chung khác với các thành viên của các họ khác. Họ có vĩ tố -viridae, đóng vai trò trung tâm và thường có tiếp đầu ngữ mang đặc điểm đặc trưng. Ví dụ Picornaviridae là từ ghép pico/rna/viridae (pico tiếng Ý là nhỏ) gồm các virus có kích thước nhỏ; Flavoviridae - tiến Latinh flavo là vàng (vì trong đó có virus gây bệnh sốt vàng) ở một số họ (ví dụ Herpesviridae) có sự khác nhau giữa các thành viên trong họ, dẫn đến sự hình thành các họ phụ, được ký hiệu với vĩ tố -virinae. Như vậy họ Herpesviridae còn được phân tiếp thành các họ phụ Alphaherpesvirinae, (virus, Herpes simplex), Betaherpesvirinae (virus cytomegalo) và Gammaherpesvirinae (virus Epstein-Barr).

Chi virus.

Chi là đại diện cho các nhóm ghép của các loài, có các đặc điểm chung và khác với các thành viên của các chi khác. Tên chi thường có vĩ tố -virus. Cũng như tên họ, tên chi thường có tiếp đầu ngữ mang đặc điểm đặc trưng. Ví dụ Rhinovirus (Rhino tiếng Hy Lạp là mũi, ám chỉ virus gây bệnh sổ mũi. Các tiêu chuẩn để phân định các chi thay đổi giữa họ này với họ khác nhưng chúng vẫn bao gồm sự khác nhau về các đặc điểm di truyền, cấu trúc và các đặc điểm khác.

Loài virus.

Loài virus được định nghĩa như là một lớp phân loại dựa trên một số lượng lớn các đặc điểm lớp (polythetic class), tạo lập mối liên hệ với nhau về sao chép và chiếm một ổ sinh thái riêng biệt. ICTV hiện đang xem xét một cách cẩn trọng các đặc điểm thiết yếu cần phải có để xác định loài. Sự phân chia giữa loài và chủng vẫn còn là một vấn đề khó khăn.

3.  Quá trình sinh trưởng của vi sinh vật

3.1. Điều kiện sinh trưởng

3.1.1. Yếu tố dinh dưỡng

Các chất dinh dưỡng đối với vi sinh vật là bất kỳ chất nào được vi sinh vật hấp thụ từ môi trường xung quanh và được chúng sử dụng làm nguyên liệu để cung cấp cho quá trình sinh tổng hợp tạo ra các thành phần của tế bào hoặc để cung cấp cho quá trình trao đổi năng lượng.

Quá trình hấp thụ các chất dinh dưỡng để thoả mãn mọi nhu cầu sinh trưởng và phát triển được gọi là quá trình dinh dưỡng. Chất dinh dưỡng phải là những hợp chất có tham gia vào các quá trình trao đổi chất nội bào.

Thành phần hoá học của tế bào vi sinh vật quyết định nhu cầu dinh dưỡng của chúng. Thành phần hoá học của các chất dinh dưỡng được cấu tạo từ các nguyên tố C, H, O, N, các nguyên tố khoáng đa và vi lượng.

Lượng các nguyên tố chứa ở các vi sinh vật khác nhau là không giống nhau. Trong các điều kiện nuôi cấy khác nhau, tương ứng với các giai đoạn phát triển khác nhau, lượng các nguyên tố chứa trong cùng một loài vi sinh vật cũng không giống nhau. Trong tế bào vi sinh vật các hợp chất được phân thành hai nhóm lớn: (1) nước và các muối khoáng; (2) các chất hữu cơ.

 Nước và muối khoáng. Nước chiếm đến 70 - 90 % khối lượng cơ thể vi sinh vật. Phần nước có thể tham gia vào quá trình trao đổi chất của vi sinh vật được gọi là nước tự do. Đa phần nước trong vi sinh vật đều ở dạng nước tự do. Nước kết hợp là phần nước liên kết với các hợp chất hữu cơ cao phân tử trong tế bào. Nước liên kết mất khả năng hoà tan và lưu động.  5 % khối lượng khô của tế bào. Chúng thường tồn tại dưới các dạng muối sunfat, phosphat, cacbonat, clorua...Trong tế bào chúng thường ở dạng các ion. Các ion trong tế bào vi sinh vật luôn luôn tồn tại ở những tỷ lệ nhất định, nhằm duy trì độ pH và áp suất thẩm thấu thích hợp cho từng loại vi sinh vật.

Chất hữu cơ trong tế bào vi sinh vật chủ yếu được cấu tạo bởi các nguyên tố: C, H, O, N, P, S...Riêng các nguyên tố C, H, O, N chiếm 97% toàn bộ chất khô của tế bào. Đó là các nguyên tố chủ yếu cấu tạo nên protein, axit nucleic, lipit, hydrat- cacbon. Trong tế bào vi khuẩn các hợp chất đại phân tử chỉ chiếm 3,5% , còn các ion vô cơ chỉ có 1%. Chất hữu cơ trong tế bào vi sinh vật chủ yếu được cấu tạo bởi các nguyên tố: C, H, O, N, P, S...Riêng các nguyên tố C, H, O, N chiếm tới 90%

Vitamin cũng có sự khác nhau rất lớn về nhu cầu của vi sinh vật. Có những vi sinh vật tự dưỡng chất sinh trưởng, chúng có thể tự tổng hợp ra các vitamin cần thiết. Nhưng cũng có nhiều vi sinh vật dị dưỡng chất sinh trưởng, chúng đòi hỏi phải cung cấp nhiều loại vitamin khác nhau với liều lượng khác nhau.

3.1.2. Yếu tố ngoại cảnh

* Độ ẩm: Đa số vi sinh vật ưa nước, cần nước ở dạng tự do, dễ hấp thụ. Chỉ có một số xạ khuẩn thuộc loại ưa khô, sử dụng nước gắn trên hạt đất. Thiếu nước xảy ra hiện tượng vi sinh vật sẽ loại nước khỏi tế bào, và dẫn đến bị chết.

* Nhiệt độ:  Vi sinh vật chỉ tồn tại trong dải nhiệt độ rộng 2-100◦C, có 3 mức nhiệt độ để vi sinh vật sinh trưởng được: Nhiệt độ tối thiểu sinh trưởng được, nhiệt độ sinh trưởng tối ưu, nhiêt độ tối đa có thể sinh trưởng được.

·                     Nhiệt độ không những ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của vi sinh vật mà còn ảnh hưởng đến kiểu sinh sản, hình thái, trao đổi chất và nhu cầu dinh dưỡng của vi sinh vật

·                     Tùy vào kiểu ưa thích nhiệt độ, có thể chia vi sinh vật thành 3 nhóm: ưa lạnh, ưa ấm, ưa nóng

·                     Ngoài các nhóm trên, còn có nhóm vi sinh vật sinh trưởng ở nhiệt độ trung bình nhưng có thể chịu được nhiệt độ cao hơn.

·                     Ở nhiệt độ thấp vi sinh vật không phát triển được do thay đổi cấu hình lập thể của các permease, làm bất hoạt các vận chuyển xuyên màng.

·                     Ở nhiệt độ cao, vi sinh vật có thể bị chết do bị biến tính protein, enzym, ARN,.

* Áp suất: Màng tế bào chất của vi sinh vật là màng bán thấm, do đó áp suất thẩm thấu và áp suất thủy tĩnh cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật. Trong môi trường ưu trương, tế bào mất khả năng rút nước và các chất dinh dưỡng hòa tan xung quanh, tế bào bị khô sinh lý, co nguyên sinh chất và có thể bị chết nếu kéo dài. Nhưng khi dung dịch nhược trương, tế bào vi sinh vật bị nước xâm nhập, nếu thành không chắc sẽ bị vỡ. Đa số vi sinh vật phát triển tốt trong môi trường có nồng độ muối nhỏ hơn 2%, nồng độ muối cao thường có hại. Có những chủng vi sinh vật ưa muối có thể sống và phát triển được trong môi trường muối cao đến trên 30%

·   Ở nhiệt độ thường, áp suất cao có thể giảm động lực của vi sinh vật, nhưng làm vi sinh vật chết.

 Khí quyển

Dựa vào nhu cầu cần khí oxy trong sự phát triển của vi sinh vật, có thể chia ra

·   Vi sinh vật hiếu khí: bắt buộc cần có oxy để sinh trưởng, đa số vi nấm và nhiều vi khuân thuộc nhóm này. Khi nuôi cấy vi sinh vật nhóm này, cần phải bổ sung, cấp khí để vi sinh vật sinh trưởng và phát triển.

·   Vi sinh vật kị khí bắt buộc: sự có mặt của phân tử oxy là có hại.

·   Hiếu khí không bắt buộc: sinh trưởng được trong điều kiện có cũng như không có oxy. Đa số nấm men, số nhiều vi khuẩn thuộc nhóm này.

·   Kị khí không bắt buộc: có thể tồn tại được trong môi trường có khí oxy

·   Vi Hiếu khí: chỉ có thể phát triển được trong điều kiện áp suất oxy rất thấp.

pH môi trường

·         mỗi loài vi sinh vật có một pH tối ưu cho sự phát triển của chúng. Để sinh trưởng được trong moi trường acid hoặc kiềm thì vi sinh vật phải duy trì được pH nội bào 7,5 dù pH ngoại bào là bao nhiêu.

·         Đa số vi sinh vật sinh trưởng ở pH là 6-8

·         Nấm mốc, nấm men có khoảng pH rọng hơn vi khuẩn, nhưng pH tối ưu là 5-6

·         Khi vi sinh vật phát triển mạnh, pH môi trường sẽ bị thay đổi. Sự thay đổi pH quá lớn có thể tác động kìm hãm sự phát triển, sinh trưởng của vi sinh vật, vì vậy cần bổ sung chất đệm vào môi trường để duy trì PH trong khoảng thời gain

Ngoài các nhân tố trên, còn có nhiều điều kiện, nhân tố ngoại cảnh khác ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh trưởng của vi sinh vật như: sức căng bề mặt, âm thanh, ánh sáng, thế oxy hóa khử,..

3.2. Cách sinh trưởng

3.2.1. Quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển

Sinh trưởng là biểu thị sự tăng trưởng các thành phần của tế bào. Đối với các vi sinh vật có hình thức sinh sản bằng nẩy chồi hay phân đôi thì sinh trưởng dẫn tới sự gia tăng số lượng tế bào. Tế bào tăng trưởng đến một mức độ nhất định thì sẽ phân cắt thành hai tế bào thế hệ con có kích thước hầu như bằng nhau. Đối với các vi sinh vật đa nhân thì sự phân cách nhân không đồng hành với sự phân cắt tế bào - sự sinh trưởng làm tăng kích thước tế bào mà không làm tăng số lượng tế bào. Vì vi sinh vật rất nhỏ bé cho nên là đối tượng rất không thuận tiện để nghiên cứu về sinh trưởng và phát triển. Chính vì vậy mà khi nghiên cứu về sinh trưởng, người ta thường xét đến sự biến đổi về số lượng của cả quần thể vi sinh vật.

3.2.2. Lý thuyết và quy luật về sinh trưởng

1. Nuôi cấy không liên tục

Sự sinh trưởng của vi sinh vật trong nuôi cấy không liên tục bao gồm 4 pha cơ bản; pha tiềm phát, pha cấp số, pha cân bằng và pha suy vong.

µ là tốc độ sinh trưởng riêng của VSV, chỉ số lần phân chia trong một đơn vị thời gian.

- Pha tiềm phát (pha lag): tính từ khi vi sinh vật được cấy vào bình cho đến khi chúng bắt đầu sinh trưởng. Đây là giai đoạn thích nghi của VSV, chúng tiến hành tổng hợp mạnh ADN và các enzyme chuẩn bị cho sự phân bào.

- Pha lũy thừa (pha log-pha cấp số): vi sinh vật phân chia mạnh mẽ, số lượng tế bào tăng theo lũy thừa và đạt đến cực đai. Thời gian thế hệ đạt tới hằng số, quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh mẽ nhất.

- Pha cân bằng: tốc độ sinh trưởng và trao đổi chất của vi sinh vật giảm dần. Do chất dinh dưỡng bắt đầu cạn kiệt, chất độc hại tăng trong môi trường nuôi cấy, số lượng tế bào đạt cực đại và không đổi theo thời gian.

- Pha suy vong: số lượng tế bào trong quần thể giảm do bị phân huỷ ngày càng nhiều, chất dinh dưỡng cạn kiệt, chất độc hại tăng

Ý nghĩa: nghiên cứu sự sinh trưởng của quần thể vi sinh vật,

Một số hạn chế của nuôi cấy không liên tục:

+ Chất dinh dưỡng cạn dần

+ Các chất độc hại tích lũy ngày càng nhiều

→ Ức chế sự sinh trưởng của vi sinh vật

2. Nuôi cấy liên tục:

Trong nuôi cấy liên tục không có sự bổ sung chất dinh dưỡng mới cũng không lấy ra các chất độc hại do đó quá trình nuôi cấy sẽ nhanh chóng dẫn đến suy vong.

Trong nuôi cấy liên tục chất dinh dưỡng mới thường xuyên được bổ sung đồng thời không ngừng loại bỏ các chất thải, nhờ vậy quá trình nuôi cấy đạt hiệu quả cao và thu được nhiều sinh khối hơn.

Nuôi cấy liên tục được dùng để sản xuất sinh khối vi sinh vật như các enzyme, vitamim, etanol…

3.3. Đặc tính sinh trưởng của vi khuẩn trên môi trường nuôi cấy

 Nuôi cấy vi khuẩn mọc lên bằng cách nhân đôi các tế bào riêng lẻ (nhị phân)

• Sự tăng trưởng của nuôi cấy vi khuẩn được xác định theo thời gian thế hệ

• Thời gian thế hệ (G.T.) là thời gian cần thiết để một tế bào được phân chia.

• Đối với hầu hết các vi khuẩn thì G.T. là 30 – 60 phút

• G.T. của E. coli là 20 phút (1 tế bào sau 20 thế hệ sẽ nhân ra 1 triệu tế bào)

• Đồ thị logarit được sử dụng để mô tả sự tăng trưởng của nuôi cấy vi khuẩn

4. Quá trình trao đổi chất của vi sinh vật

4.1. Dinh dưỡng

4.1.1. Quá trình phân giải

Phân giải prôtêin và ứng dụng

 Xảy ra bên ngoài cơ thể vi sinh vật nhờ quá trình tiết prôtêaza của chúng.

- Tạo ra sản phẩm là các axit amin.

Phân giải pôlisaccarit và ứng dụng

   - Xảy ra bên ngoài cơ thể vi sinh vật nhờ quá trình tiết các enzim phân giải pôlisaccarit của chúng.

   - Tạo ra sản phẩm là đường đơn (điển hình là glucôzơ). Đường đơn được vi sinh vật hấp thụ và phân giải theo con đường hiếu khí, kị khí hoặc lên men. Dưới đây là một số hình thức phân giải pôlisaccarit được nhiều người biết đến :

   + Lên men êtilic

   Lên men êtilic sử dụng nguyên liệu là tinh bột, có sự tham gia của nấm men rượu và sản phẩm tạo thành là rượu êtilic và khí cacbônic :

   Tinh bột -> Glucôzơ -> Êtanol + Khí cacbônic

   (Chú thích : N – Nấm ; NMR – Nấm men rượu)

   + Lên men lactic

   Lên men lactic là quá trình chuyển hóa kị khí đường thành sản phẩm chủ yếu là axit lactic. Có 2 loại lên men lactic là lên men đồng hình (sản phẩm tạo ra chỉ là axit lactic) và lên men dị hình (sản phẩm tạo ra ngoài axit lactic còn có thêm các chất khác như axit axêtic, rượu êtilic, khí cacbônic,...).

+ Phân giải xenlulôzơ

   Dưới tác dụng của enzim xenlulaza do vi sinh vật tiết ra, xenlulôzơ bị phân giải thành các phân tử đường đơn, đường đôi.

 - Phân giải pôlisaccarit được ứng dụng để sản xuất siro, kẹo mạch nha, rượu, dưa muối, cà muối, nem chua, làm sạch môi trường... Tuy vây, quá trình phân giải pôlisaccarit cũng mang lại nhiều phiền toái cho đời sống con người, ví dụ : gây mục hỏng quần áo, làm ôi thiu thực phẩm, làm hư hỏng các thiết bị đồ gỗ...

 - Được ứng dụng trong sản xuất nước mắm, nước tương,...

4.1.2. Quá trình hấp thu

Sự khuếch tán xúc tiến (Facilitated Diffusion)

Một số ít các chất, như glycerol, có thể đi qua màng tế bào chất theo phương thức Khuyếch tán bị động (Passive diffusion). Khuyếch tán bị động còn được gọi tắt là Khuyếch tán, đó là việc các chất dinh đưỡng chuyển từ chỗ có nồng độ cao đến chỗ có nồng độ thấp. Khuyếch tán bị động muốn làm cho tế bào hấp thụ có hiệu quả một số chất dinh dưỡng cần có nồng độ chất này bên ngoài tế bào cao hơn bên trong. Tốc độ hấp thu tùy theo lúc tế bào tăng lượng hấp thu chất này mà giảm xuống. Trừ phi loại chất dinh dưỡng này sau khi xâm nhập tế bào lập tức được sử dụng và không làm nâng cao nồng độ chất đó trong tế bào. Chỉ có nước (H2O), Ovà CO2, là những phân tử rất nhỏ mới thường được vận chuyển qua màng bằng phương thức khuếch tấn bị động. Các phân tử tương đối lớn hơn, các ion và các chất có tính cực (polar substances) khó có thể đi qua màng sinh chất băng phương thức khuếch tán bị động.

Sự vận chuyển chủ động (Active Transport)

      Mặc dầu sự khuếch tán xúc tiến giúp chuyển vận có hiệu quả chất dinh dưỡng vào bên trong tế bào khi nồng độ chất hòa tan bên ngoài cao hơn bên trong tế bào, nhưng không thể vận chuyển được chất dinh dưỡng khi nồng độ chất hòa tan trong tế bào cao hơn bên ngoài. Vi sinh vật thường sống trong các môi trường có nồng độ chất dinh dưỡng rất thấp, để có thể sinh trưởng và phát triển chúng phải có thể vận chuyển và hấp thu được từ môi trường các chất dinh dưỡng có nồng độ thấp. Khi đó khuếch tán xúc tiến không còn là phương thức vận chuyển hữu hiệu nữa mà phải có những phương thức vận chuyển khác, trong đó quan trọng nhất là phương thức vận chuyển chủ động (active transpore) và phương thức chuyển vị nhóm (group translocation); cả hai phương thức này đều cần tới năng lượng.

Sự chuyển vị nhóm (Group Translocation)

      Trong việc vận chuyển chủ động, các phân tử hòa tan vận chuyển qua màng mà không cần cải biến. Nhiều vi sinh vật nhân sơ còn có thê thông qua việc chuyển vị nhóm để hấp thu chất dinh dưỡng. Trong quá trình này vật chất được vận chuyển sẽ có phát sinh biến hóa hóa học. Nhóm này có thể xếp vào loại vận chuyển phụ thuộc năng lượng vì cần sử dụng năng lượng trao đổi chất. Hệ thống chuyển vị nhóm quen biết nhất là Phosphoenolpyruvate: hệ thống phosphotransferase đường (PTS). Nhiều loại đường thông qua phương thức vận chuyển này để chuyển vào tế bào vi sinh vật nhân sơ khi bị phosphoryl hóa và sử dụng phosphoenolpyruvate (PEP) làm thể cho phosphate:

            PEP + Đường (ngoại bào) → Pyruvate + Đường + P (nội bào)

Sự hấp thụ Sắt (Iron Uptake)  

    Hầu như tất cả vi sinh vật đều cần sử dụng sắt (Fe) để cấu tạo nên các Cytochrome và nhiều enzym. Sắt rất khó hấp thụ vì ion sắt (Fe3+) và các dẫn xuất của chúng rất khó hòa tan, trong môi trường thường có rất ít các hợp chất sắt dễ hòa tan để có thể vcận chuyển vào tế bào. Việc hấp thu sắt của vi sinh vật là hết sức khó khăn. Nhiều vi khuẩn và nấm phải khắc phục khó khăn này bằng cách thông qua thể mang sắt (siderophore). Đó là những phân tử có phân tử lượng thấp lại liên kết với sắt và chuyển vận được vào tế bào, thường đó là các muối hydroxamates hoặc phenolates-catecholates. Ferrichrome là một loại hydroxamate được sinh ra bởi nhiều nấm; enterobactin là loại catecholate được sinh ra bởi E.coli...      

4.2. Quá trình trao đổi chất

4.2.1. Khái niệm

Trao đổi chất là quá trình hấp thu thức ăn từ môi trường vào cơ thể, chế biến nó thành các chất của cơ thể và thải các sản phẩm cuối cùng ra môi trường.

Quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng gọi là quá trình dinh dưỡng. Quá trình chế biến các chất dinh dưỡng thành các chất của cơ thể gọi là quá trình đồng hoá. Quá trình phân huỷ các thành phần của cơ thể gọi là quá trình dị hoá. Quá trình oxy hoá các chất dinh dưỡng để tạo ra năng lượng được gọi là quá trình trao đổi năng lượng. Vì vi sinh vật không có mô dự trữ nên chúng phải oxy hoá trực tiếp các chất dinh dưỡng để tạo ra năng lượng.

Trao đổi chất và trao đổi năng lượng liên quan chặt chẽ với nhau. Cơ thể vi sinh vật muốn tạo ra năng lượng để hoạt động sống phải dựa vào nguồn dinh dưỡng được hấp thu do quá trình trao đổi chất. Quá trình trao đổi chất thực hiện được là nhờ vào năng lượng của tế bào. Hai quá trình này có những đặc trưng riêng biệt tuỳ theo đặc điểm sống của từng nhóm vi sinh vật.

- Nhóm sinh dưỡng quang năng có khả năng sử dụng trực tiếp năng lượng của ánh sáng mặt trời để đồng hoá CO2 tạo thành chất hữu cơ của cơ thể.

- Nhóm dinh dưỡng hoá năng vô cơ sử dụng năng lượng sinh ra trong quá trình oxy hoá một chất vô cơ nào đó để đồng hoá CO2 trong không khí.

- Nhóm dinh dưỡng hoá năng hữu cơ sử dụng chất hữu cơ làm chất ôxy hoá sinh năng lượng.

Trong nhóm này, nhóm háo khí có quá trình ôxy hoá năng lượng kèm theo việc liên kết với ôxy của không khí.

4.2.2. Quá trình trao đổi năng luợng

Quá trình trao đổi năng lượng

Quá  trình TĐNL nhằm cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của cơ thể là một mặt hoạt động sinh lý quan trọng của sinh vật nói chung và vi sinh vật nói riêng. Hoạt động sinh lý này như đã quen gọi là sự hô hấp.

Cũng như các sinh vật khác bản chất của hô hấp VSV là quá trình oxi hoá khử được thực hiện bằng sự khử hydrro của cơ chất và chuyển H này cho chất nhận, hoàn thành giai đoạn oxi hoá khử giải phóng ra năng lượng. Sự hô hấp khác nhau của VSV phụ thuộc vào chất nhận H cuối cùng của quá trình oxi hoá khử: có thể là oxi phân tử (O2), là chất hữu cơ hay chất vô cơ.

Năng lượng giải phóng sẽ được giữ lại trong các hợp chất giàu năng lượng trong tế bào (ATP, axetyl photphat, axetyl CoA) trong số này quan trọng nhất là ATP. Năng lượng của của ATP được dùng trong hầu hết các phản ứng cần năng lượng; AMP, ADP, ATP rất dễ chuyển hoá tương hỗ lẫn nhau, do đó sử dụng rất tốt trong quá trình trao đổi năng lượng.

AMP + H3PO4+ Q →  ADP

ADP + H3PO4+ Q  →  ATP

So với động vật, hô hấp ở VSV có những điểm chung giống nhau nhung cũng có những điểm khác nhau, đó là:

Qúa trình cung cấp năng lượng cho hoạt động sống. Không có bộ máy hô hấp chuyên trách, sự hô hấp xảy ra trên toàn bộ tế bào. Hô hấp có thể cần oxi như động vật nhưng cũng có thể không cần oxi (hô hấp yếm khí). Cơ chất để oxi hoá có thể là chất hữu cơ và cũng có thể là chất vô cơ. Một phần năng lượng của quá trình oxi hoá được chuyển thành nhiệt năng làm nóng môi trường.

4.2.3. Quá trính sinh tổng hợp

. QUÁ TRÌNH TỔNG HỢP

- Vi sinh vật có thời gian phân đôi ngắn nên quá trình hấp thu, chuyển hoá, tổng hợp các chất của tế bào diễn ra rất nhanh.

. Tổng hợp các chất

- Phần lớn vi sinh vật có khả năng tự tổng hợp được các loại axit amin nhờ sử dụng năng lượng và enzim nội bào. Các axit amin được liên kết với nhau để tạo thành prôtêin thông qua dịch mã.

- Tổng hợp polisaccarit nhờ chất khởi đầu là ADP – glucozo

(Glucôzơ)n + ADP-glucôzơ → (Glucôzơ)n+1 + ADP

- Tổng hợp lipit khi kết hợp glixerol với các axit béo bằng liên kết este.

- Các bazo nito kết hợp với đường 5 cacbon và axit photphoric để tạo ra các nuclêôtit, sự liên kết các nuclêôtit tạo ra các axit nuclêic. ADN tự nhân đôi và phiên mã để tổng hợp ARN.

Một số virut ARN có phiên mã ngược, tổng hợp ADN từ phân tử ARN nhờ enzim phiên mã ngược.

. Ứng dụng tổng hợp các chất ở vi sinh vật

Nhờ vi sinh vật có tốc độ sinh trưởng nhanh và khả năng tổng hợp sinh khối cao, con người sử dụng vi sinh vật để tạo ra:

- Một sốloại axit amin quý như axit glutamic nhờ vi khuẩn Corynebacterium glutamicum, lizin nhờ các

vi khuẩn Brevibacterium.

- Tạo prôtêin đơn bào nhờ nấm men, sản xuất sinh khối từ vi sinh vật làm thức ăn giàu dinh dưỡng dùng trong chăn nuôi, giảm thải ô nhiễm môi trường...

- Tạo  các chất  khác  nhờ  công  nghệ  di  truyền vi  sinh vật:  như  Insulin  của người, các  enzim amilaza, prôtêaza, lipaza, các chất dự trữ của vi sinh vật như các hạt pôlime nhựa.

Chương 2: Các virus gây bệnh thường gặp

1. Virus  gây bệnh dịch tả cho heo (CSF)

1.1. Đặc điểm virus

Vi rút có cấu trúc ARN thuộc giống Pestis vi rút, họ Flaviridae gây ra; đã xác định chỉ có một serotype vi rút Dịch tả heo. Vi rút tồn tại lâu ở ngoài môi trường, có thể sống sót vài ngày trong phân lợn, vài tháng đến vài năm trong thịt đông lạnh. Tuy nhiên, đây là loại vi rút có sức đề kháng yếu, dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ cao và các chất sát trùng thông thường như xút (NaOH) 2%, nước vôi 5%...

1.2. Khả năng gây bệnh

Các chủng virus gây bệnh dịch tả heo cổ điển khác nhau về độc lực. Một số chủng có độc lực cao và gây bệnh thể quá cấp tính (diễn ra rất nhanh), trong khi có chủng độc lực thấp gây bệnh mạn tính (diễn biến kéo dài), số còn lại mang độc lực trung bình gây bệnh thể quá cấp tính.

Dịch tả heo cổ điển là bệnh nhiễm trùng huyết toàn thân với khả năng làm hư hại nội biểu mô mạch máu, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu nên hậu quả là gây ra tình trạng xuất huyết, huyết khối tắc mạch khắp cơ thể.

1.3. Chẩn đoán

Dựa vào triệu chứng của bệnh dịch tả heo cổ điển có nhiều triệu chứng, bệnh tích giống với heo mắc bệnh phó thương hàn, ASF (dịch tả heo Châu Phi), PRRS (tai xanh)… Chính vì vậy để chẩn đoán chính xác vật nuôi mắc bệnh gì cần sử dụng đến phương pháp chẩn đoán phi lâm sàng.

Hiện nay có 2 phương pháp chẩn đoán phi lâm sàng cho hiệu quả tối ưu: chẩn đoán bằng POCKIT iiPCR và chẩn đoán bằng PCR tại phòng thí nghiệm.

1.4. Kiểm soát bệnh

Vaccine bất hoạt được sử dụng phổ biến nhưng đôi khi gây nhiễm bệnh do chứa chứa virus sống. Hiện nay phần lớn đã được thay thế bằng vaccine sống nhược độc. Heo có bắt đầu có bảo hộ miễn dịch trong một tuần đến mười bốn ngày sau khi tiêm phòng và thời gian bảo hộ kéo dài 6 tháng. Heo nái đã được tiêm phòng sẽ có kháng thể trong sữa non, heo con bú có bảo hộ miễn dịch kéo dài khoảng 2 - 4 tuần. Trong thời gian này, tiêm vaccine không có hiệu quả do kháng thể của mẹ sẽ vô hiệu hóa virus trong vaccine trước khi nó kịp kích thích miễn dịch.

2. Virus  gây bệnh viêm gan ở vịt, ngan

2.1. Đặc điểm virus

Bệnh viêm gan trên vịt gây ra bởi RNA virus DHV (type 1, type 2 và type 3) thuộc giống enterovirus, họ picornaviridae.

Virus viêm gan vịt có sức đề kháng cao, không bị bất hoạt khi xử lý bằng ether; chloroform, ….Ở nhiệt độ 15 - 20oC, virus bị bất hoạt hoàn toàn khi được xử lý với formaldehyde 1%, NaOH 2% sau 2 giờ.

Virus tương đối bền với nhiệt độ: Bị bất hoạt sau 30 phút ở 56oC. Ở 37oC virus tồn tại được 21 ngày, ở 4oC trong 2 năm và ở -20oC có thể tồn tại tới 9 năm.

Trong chuồng trại ẩm ướt, phân vịt, virus tồn tại được hơn 37 ngày.

Bệnh chủ yếu xảy ra ở vịt con 1 - 3 tuần tuổi nhưng cũng gặp ở vịt mới nở hoặc vịt 5 - 6 tuần tuổi.

Bệnh ít gặp ở vịt trưởng thành và các loại gia cầm khác.

Ở vịt con 1 - 3 tuần tuổi, bệnh xảy ra ác liệt với tỷ lệ chết cao từ 50 - 95%, có khi tới 100%. Tỷ lệ chết thấp hơn ở vịt con từ 4 - 5 tuần tuổi.

Trong tự nhiên, bệnh lây lan qua thức ăn, nước uống, và chất bài xuất của vịt bệnh; thông qua không khí, vịt con cũng có thể mắc bệnh.

Các nguyên nhân gián tiếp lây truyền virus như con người, dụng cụ chăn nuôi, máy ấp trứng.

Trong ổ dịch lưu cữu, vịt bệnh, vịt khỏi bệnh mang trùng chính là nguyên nhân trực tiếp làm dịch phát sinh. Thời gian mang trùng của vịt từ 8 - 10 tuần.

Ngan, ngỗng và một số loài chim hoang dã mang virus, đào thải virus theo phân vào nguồn nước làm lan truyền bệnh.

2.2. Khả năng gây bệnh

Sau khi xâm nhập, virus vào máu tới các cơ quan phủ tạng trong cơ thể của vịt, đặc biệt là gan vì đây là cơ quan đích của virus.

Lúc này, quá trình trao đổi chất ở gan bị rối loạn, lượng glucogen trong gan giảm thấp, lượng lipid tăng cao do quá trình trao đổi cholesterol bị đình trệ.

Sức đề kháng của vịt con bị giảm sút.

Virus gây bệnh viêm gan ở vịt tấn công và phá hoại tế bào gan, tế bào nội mô huyết quản gây hoại tử, xuất huyết đặc trưng.

Do tổ chức gan bị phá hủy, chức năng gan bị suy yếu, không còn chức năng giải độc làm chất độc của quá trình trao đổi chất tích tụ lại, con vật bị chết vì chứng ngộ độc.

2.3. Chẩn đoán

Chẩn đoán lâm sàng cần chú ý bệnh xuất hiện đột ngột, diễn biến cấp tính, chỉ xảy ra ở vịt dưới 6 tuần tuổi, có bệnh tích đặc trưng ở gan. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp bệnh tích viêm gan ở vịt không biểu hiện rõ.

Bên cạnh đó có nhiều xảy ra trên vịt có biểu hiện gần giống như phó thương hàn vịt, dịch tả vịt, trúng độc thức ăn.

Để chẩn đoán chính xác bệnh cần sử dụng các phương pháp chẩn đoán phi lâm sàng như:

·         Phản ứng kết hợp bổ thể.

·         Phản ứng khuếch tán trong thạch của kết tủa.

·         Phản ứng ELISA.

·         Kỹ thuật PCR thực địa iiPCR.

Bệnh phẩm sử dụng là gan, lách hoặc não vịt bệnh.

2.4. Kiểm soát bệnh

- Phun sát trùng, tẩy uế chuồng trại định kỳ.

- Nhập giống từ những đàn bố mẹ khỏe mạnh, cơ sở ấp nở uy tín.

- Tiêm phòng cho vịt trước khi nhập đàn về nuôi.

- Định kỳ lấy mẫu máu vịt kiểm tra giám sát mầm bệnh lưu hành trong chuồng trại.

- Thực hiện chăn nuôi cùng vào cùng ra, giữa các lứa vịt cần vệ sinh dọn dẹp chuồng trại và để trống chuồng ít nhất 2 - 4 tuần.

- Các trang trại giống cần trang bị thiết bị PCR Pockit để xét nghiệm nhanh bệnh trên vịt do virus, vi khuẩn gây ra để sàng lọc và cung cấp những con giống khỏe mạnh cho người chăn nuôi.

3. Virus  gây bệnh Newcastle

3.1. Đặc điểm virus

Virus Newcastle là một ARN virus thuộc họ Paramyxoviridae. Trong họ này có 9 nhóm virus ký hiệu từ APMV-1 đến APMV-9 (Avian paramyxo virus – APMV).

Virus Newcastle thuộc nhóm APMV-1 là nguyên nhân chính gây bệnh ở gia cầm. Ngoài ra, các virus thuộc nhóm APMV-2, APMV-3, APMV-6, APMV-7 cũng gây bệnh ở gia cầm. Virus  có vỏ bọc ngoài là lipit nên rất mẫn cảm với ete, cồn ethylic, chloroform.

3.2. Khả năng gây bệnh

Trong tự nhiên: Virus gây bệnh cho các loài: gà, gà tây, bồ câu, chim sẻ, chim cút. Vịt, ngan, ngỗng cũng mắc nhưng bệnh thường nhẹ. Gà ở mọi lứa tuổi đều mắc nhưng cảm thụ nhất là gà con. l Người cũng có thể bị nhiễm virus, nung bệnh 1-4 ngày ,sốt và cảm mạo.

- Trong phòng thí nghiệm : Thường gây nhiễm cho gà dò, phôi gà ấp 9-11 ngày để gây bệnh và phân lập VR.Trên gà bệnh xảy ra giống như trong tự nhiên

3.3. Chẩn đoán

Lấy mẫu bệnh phẩm tiêm truyền động vật thí nghiệm gà giò đủ tiêu chuẩn.

Nếu trong bệnh phẩm có virus thì sau tiêm 2-3 ngày có triệu chứng: ủ rũ, xù lông sã cánh, buồn ngủ, đứng co ro  bỏ ăn, uống nước nhiều , sốt cao , ỉa chảy phân trắng xanh nhão, có bọt. l Miệng gà đầy nước dãi quánh dính, nếu dốc ngược gà lên thấy có nhiều nước dãi chảy ra,mùi chua khắm. 4-5 ngày sau ,gà thở khó, mào xám, hay ngáp. Ngày 6-7, thân nhiệt hạ, gà chết. Nếu bệnh kéo dài, gà có triệu chứng thần kinh : - Đi siêu vẹo - Đi giật lùi - Đầu cổ co giật - Mổ không trúng thức ăn

Chẩn đoán huyết thanh học

3.4. Kiểm soát bệnh

Hiện nay ở nước ta đang sử dụng 2 loại vacxin nhược độc Newcastle phòng bệnh cho gà, vacxin có 2 loại.

- Vacxin Hệ II: Loại vacxin chế từ chủng virus thuộc nhóm Lentogen:Lasota, B1, F, Avinew,V4…. Dùng cho gà mọi lứa tuổi, vacxin an toàn nhưng thời gian miễn dịch ngắn.Khi dùng vacxin bằng phương pháp nhỏ mũi, mắt ,miệng.

 - Vacxin Hệ I: Loại vacxin chế từ chủng virus thuộc nhóm Mesogen :Mukteswar, H (Hertfordshire). Vacxin chỉ dùng cho gà từ 2 tháng tưổi trở lên với gà đã có miễn dịch cơ sở với vacxin Lasota. Khi dùng vacxin tiêm dưới da Vacxin loại này an toàn kém hơn vacxin nhóm trên nhưng thời gian miễn dịch dài hơn

4. Virus  gây bệnh dịch tả cho vịt

4.1. Đặc điểm virus

Do một loại virus chứa AND thuộc Herpesvirut.

- Virus chỉ có một chủng huyết thanh duy nhất nhưng do độc lực khác nhau nên người ta chia làm 3 nhóm: độc lực rất cao, độc lực trung bình và ít độc.

- Vịt, ngan, ngỗng, thiên nga và một số hoang cầm cùng nòi khác đều mắc.

Có thể bị bất kỳ giai đoạn nào trong đời và có thể tái nhiễm.

Virus dịch tả vịt mẫn cảm với ether, chlorofom, cồn 70o, acid phenic 0.5% diệt virus sau 30 phút.

Virus ổn định ở độ pH từ 5 - 10 và bất hoạt khi pH<3 và pH>10.

Virus đề kháng kém với sức nóng: Virus bị diệt ở 30oC sau 2 giờ, ở 50oC trong 90-120 phút; 56oC trong 10 phút. Ở nhiệt độ phòng 22oC, virus sống được 30 ngày.

Với nhiệt độ lạnh virus tồn tại lâu hơn: ở 4oC virus sống được 60 ngày; ở -10oC đến -20oC virus tồn tại hàng năm. Trong điều kiện đông khô và bảo quản lạnh, virus có thể tồn tại nhiều năm.

4.2. Khả năng gây bệnh

Bệnh dịch tả vịt có thể lây trực tiếp do tiếp xúc giữa vịt khỏe và vịt ốm hoặc vịt mang trùng.

    Lây gián tiếp qua đường tiêu hóa (thức ăn, nước uống), hoặc qua đường hô hấp. Nếu cho vịt khỏe tiếp xúc với nước ao tù, hoặc nơi chăn thả vịt bệnh chúng sẽ bị lây bệnh. Trên cùng một thửa ruộng chăn thả nhiều đàn vịt, nếu một đàn vịt bệnh chúng sẽ lần lượt lây cho các đàn khác.

4.3. Chẩn đoán

Chẩn đoán lâm sàng

Chẩn đoán bệnh dịch tả vịt dựa vào các triệu chứng lâm sàng và mổ khám bệnh tích. Tuy nhiên, vẫn cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh như. Viêm gan do virus của vịt, bệnh Dịch tả ngỗng, Tụ huyết trùng gia cầm và bệnh Cúm gia cầm thể độc lực cao.

Chẩn đoán phi lâm sàng

Sử dụng các phản ứng huyết thanh học để chẩn đoán bệnh như phản ứng mễn dịch huỳnh quang, phản ứng ELISA, phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp.

Sử dụng phương pháp PCR để chẩn đoán bệnh dịch tả vịt với kỹ thuật iiPCR thực địa giúp chẩn đoán nhanh từ 1 - 2 giờ mà kết quả vẫn chính xác như các kỹ thuật PCR phòng thí nghiệm khác.

4.4. Kiểm soát bệnh

Chủ động tiêm phòng vacxin cho vịt, ngan lần 1 lúc vịt, ngan đạt 12- 15 ngày tuổi, lần hai sau đó 30 ngày. Nếu vịt, ngan được nuôi làm giống thì phải tiêm lần 3 trước khi đẻ 15- 20 ngày, Sau đó tiêm định kỳ 2 lần vào tháng 4 và tháng 10 hàng năm.

- Đối với vịt hướng thịt có thể sử dụng Kháng thể Hanvet KTV để phòng cho vịt ngay từ tuần tuổi đầu tiên với liều 0.5-1ml/con, tiêm nhắc lại sau 10-14 ngày.

- Hạn chế chăn nuôi thả rông.

- Chủ động công tác vệ sinh chăn nuôi: định kỳ phun thuốc sát trùng Haniodine 10%, Hankon…diệt các vật chủ trung gian như : ruồi , muỗi, kiến gián.. bằng Hantox-200

5. Virus  gây bệnh Gumboro (IBD)

5.1. Đặc điểm virus

.Hình thái, cấu trúc: Virus có dạng hình khối đa diện đều, là loại virus trần không có vỏ bọc ngoài cùng, kích thước khá nhỏ, đương kính 55-65 nm.
Cấu tạo virus đơn giản chỉ gồm nhân chứa ARN và lớp vỏ capside bao bọc bên ngoài, vỏ này có chứa các thành phần kháng nguyên của virus. Vì không có lớp vỏ bọc lipit nên virus có sức đề kháng cao trong tự nhiên, không mẫn cảm với ether và chloroform.103.

. Sức đề kháng

Trong tự nhiên virus có sức đề kháng cao, bị vô hoạt ở độ pH từ 2-12.
Virus bị diệt ở 56oC trong 5h, 60o C trong 30 phút, 70o C virus chết nhanh chóng.
Các chất hóa học thông thường có thể diệt được virus như: formalin 0,5% ( sau 6h); phenol 0,5% (sau 1h); chloramin 0,5% (sau 10 phút ).

Trong phân, rác, chất độn chuồng virus có thể tồn tại khá lâu ( 122 ngày), đây chính là nguồn tàng trữ virus khiến cho bệnh hay xảy ra.

5.2. Khả năng gây bệnh

Virus xâm nhập qua đường tiêu hóa của gà, xuyên qua màng ruột đến các đại thực bào và cơ quan Lympho của ống tiêu hóa, từ đây Virus theo tĩnh mạch cửa vào gan rồi lan tỏa khắp cơ thể, đến ngày thứ 4 virus có mặt ở các cơ quan sinh bạch cầu, tập trung nhiều nhất ở túi Fabricius.

- Nếu gà nhiễm bệnh từ 1 ngày đến 2 tuần tuổi, do trong máu của gà chưa có các bổ thể virus không tấn công được hệ thống mạch máu và thận, chỉ phá hại túi Fabricius, làm túi này hư hại rồi teo nhỏ, quá trình nuôi dưỡng và thành thục của tế bào Lympho B bị đình trệ, dẫn đến hậu quả làm suy giảm việc tạo kháng thể của cơ thể gà, đây là nguyên nhân chính của việc gà không tạo được miễn dịch mặc dù đã tiêm phòng đầy đủ các bệnh.

- Trường hợp nhiễm bệnh sau 2 tuần tuổi, lúc đó trong máu đã có đầy đủ lượng bổ thể virus sẽ phát huy tác dụng gây nên triệu chứng vỡ mạch máu gây xuất huyết nhiều nơi, virus đến thận phá hoại ống thận làm gà không thể tái hấp thu được nước, hậu quả nước từ thận tràn vào trực tràng, gà tiêu chảy rất nặng, gà chết chủ yếu là do mất nước
5.3. Chẩn đoán

 Chẩn đoán virus học: Túi fabricius và lách của gà nghi mắc bệnh được sử dụng để chẩn đoán.

* Chẩn đoán huyết thanh họcGồm phản ứng: AGP, trung hòa, ELISA.
Hiện nay, kĩ thuật RT-PCR được ứng dụng để chẩn đoán bệnh với độ nhạy cao nhất.
5.4. Kiểm soát bệnh

Hiện nay có rất nhiều loại vacxin phòng bệnh Gumboro. Thông thường ở những đàn gà hướng thịt người ta có thể cho gà uống vacxin nhược độc Gumboro hai lần vào lúc 7 – 10 ngày tuổi và lúc 21 – 25 ngày tuổi. Với gà con 1 ngày tuổi: Cho uống vacxin Gumboro nhược độc nhằm đưa virut Gumboro nhược độc vào chiếm chỗ túi Fabricius. Cũng có hướng dẫn: dùng vacxin Gumboro vô hoạt nhũ dầu tiêm cho đàn gà bố mẹ để gà con nở ra có kháng thể thụ động trong máu. Với đàn gà bố mẹ, ngoài hai lần uống vacxin nhược độc như trên thì vào lúc hai tháng tuổi tiêm vacxin Gumboro vô hoạt nhũ dầu và trước khi gà đẻ bói (4-5 tháng tuổi) tiêm nhắc lại lần hai.
- Chỉ phòng bệnh bằng vắc xin, không dùng kháng thể để phòng bệnh. Nâng cao sức đề kháng và miễn dịch không đặc hiệu để làm + giảm độ mẫn cảm với mầm bệnh bằng  ĐIỆN GIẢI-GLUCO K - C, đặc biệt những khi thay đổi thời tiết và khi sức khỏe giảm sút.

6.  Virus  gây bệnh FMD

6.1. Đặc điểm virus

Virus là một RNA virus thuộc họ picornavirus giống aphthovirus, có 7 type huyết thanh gồm: O, A, C, SAT1, SAT2, SAT3, Asia 1 gây bệnh có triệu chứng giống nhau nhưng không có miễn dịch chéo. Virus có 65 subtype: O (11), A (32), C (5), SAT1 (7), SAT2 (3), SAT3 (4), Asia1 (3)

·         Virus có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh

·         Virus bị bất hoạt ở nhiệt độ >50oC

·         Các chất sát trùng thông thường có thể diệt virus: NaOH 1%, formol 2%

·         Virus có thể tồn tại trong sữa, các sản phẩm từ sữa, tủy xương, hạch lympho

·         Virus sống 3 tháng trong thịt đông lạnh, 2 tháng trong thịt hun khói, xúc xích,…

6.2. Khả năng gây bệnh

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus có tính hướng thượng bì nên gây ra các mụn nước ở niêm mạc miệng, kẽ chân, vành móng, núm vú

6.3. Chẩn đoán

Chẩn đoán chính xác bệnh lở mồm long móng là việc làm cần thiết. Để chẩn đoán phân biệt các bệnh mụn nước cần thực hiện các xét nghiệm phòng thí nghiệm. Mẫu gửi đi thường là máu và các mảnh da chứa mụn nước và dịch mụn nước nếu có thể. Xét nghiệm ELISA xác định được virus và cả type huyết thanh. Người nuôi cũng có thể xác định bằng phương pháp nuôi cấy và các xét nghiệm khác như PCR - phát hiện "dấu vết" của virus. Gen (genome hoặc RNA) của virus lở mồm long móng liên tục trải qua những thay đổi nhỏ khi lây lan qua quần thể động vật. Bằng cách xác định trình tự chính xác trong gen mà nhân viên phòng thí nghiệm có thể xác định nguồn gốc địa lý của chủng virus dựa vào sự tương đồng với các chủng đã phân lập được.

6.4. Kiểm soát bệnh

- Tăng cường chia sẻ, tuyên truyền các triệu chứng và cách chẩn đoán dịch bệnh

- Đảm bảo nguồn thức ăn, nước uống sạch sẽ, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y, giữ nền chuồng trại khô ráo

- Tiêm phòng vaccine định kỳ theo hướng dẫn của nghành thú y

- Người nuôi cần giám sát vật nuôi, khi thấy xuất hiện các dấu hiệu bất thường như sốt, bỏ ăn, chảy nước dãi, có xuất hiện mụn nước ở vùng miếng thì cần phải tiến hành chẩn đoán bằng xét nghiệm PCR và cách ly những con bị bệnh

- Xử lý các vết lở mồm bằng thuốc sát trùng chuyên dụng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2.1. Nhóm Vi khuẩn

2.1.1. Nhóm cầu khuẩn gram dương

2.1.1.1. Giống Staphylococc.

 Tụ cầu khuẩn (tiếng AnhStaphylococcus có nguồn từ tiếng Hy lạp staphyle nghĩa là chùm nho) là các cầu khuẩn Gram dương không tạo nha bào có đường kính khoảng 1 μm, không di động và sắp xếp theo mọi hướng và thường tạo thành cụm (tụ) trông giống như chùm nho.

Có thể nói tụ cầu khuẩn là một trong những vi khuẩn nổi tiếng nhất: được các nhà vi khuẩn học nổi tiếng quan tâm nghiên cứu, tỉ lệ gây bệnh rất cao, có khả năng gây nhiều bệnh nặng cũng như đề kháng kháng sinh rất mạnh.

* Yếu tố độc lực

 Yếu tố độc lực ngoại bào

Ngoài coagulase và yếu tố kết cụm, tụ cầu còn sản xuất một số men quan trọng góp phần tạo nên độc lực mạnh mẽ của chủng vi khuẩn này.

·         Hyaluronidase: men này có khả năng phá hủy chất cơ bản của tổ chức

·         Độc tố ruột (Enterotoxine A, B, C, D, E, F) bền với nhiệt. Các độc tố ruột này đóng vai trò quan trọng trong ngộ độc thực phẩm.

·         Độc tố gây hội chứng sốc nhiễm độc: là nguyên nhân gây nên hội chứng sốc nhiễm độc, một hội chứng sốc trầm trọng.

A. Bệnh do tụ cầu xâm nhập

Các bệnh nhiễm trùng khu trú tại da và niêm mạc: những bệnh nhiễm trùng da và các phần phụ thuộc (chủ yếu là các chân lông và tuyến mồ hôi) tạo thành bệnh cảnh áp xe kinh điển của tụ cầu. Các tụ cầu khuẩn có khả năng tạo fibrin do đó tạo được một vách fibrin bao bọc ổ áp xe. Các ổ nhiễm trùng này có thể chỉ nhỏ như đầu đinh ghim (bệnh viêm nang lông) hoặc kích thước như quả táo trong áp xe cơ. Các vùng da có lông rậm bao phủ, tụ cầu thường là nguyên nhân gây nên các mụn đầu đanh. Tổn thương tại chỗ có thể nhẹ nhàng nhưng nó cũng là một mối nguy cơ phát tán vi khuẩn đến những cơ quan xa hơn. Mủ của các ổ áp xe do tụ cầu vàng thường có màu vàng, đặc và không hôi.

Nhiễm trùng các cơ quan sâu: nhiễm trùng các cơ quan bên trong cơ thể có thể do đường nội sinh: từ một ổ nhiễm viêm nhiễm ngoại vi, vi khuẩn theo đường máu và bạch huyết đến các cơ quan khác. Nhiễm trùng cũng có thể do nguyên nhân ngoại sinh: vi khuẩn đi từ môi trường vào cơ thể thong qua vết rách da sau chấn thương hoặc trong quá trình phẫu thuật. Các bệnh lý điển hình trong nhóm này có thể kể: viêm xương tủy xươngnhiễm trùng huyếtviêm tắc tĩnh mạch xoang hangviêm nội tâm mạcviêm màng não mủ

B. Thể trung gian

Viêm da bọng nước (bong da sơ sinh, hội chứng bong da do tụ cầu) thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Tác nhân gây bệnh là các chủng tụ cầu sản xuất độc tố Exofoliatine. Ngay sau triệu chứng sốt và đỏ da, bệnh được đặc trưng bằng dấu hiệu bong lớp biểu bì đồng thời hình thành bọng nước trên diện rộng. Bệnh thường diễn tiến lành tính. Mặc dù trên da hình thành nhiều bọng nước lớn nhưng ít khi đưa đến tình trạng rối loạn nước và điện giải. Lớp da non mới được hình thành khá nhanh. Tương tự với bệnh lý này là Hội chứng Lyell do tụ cầu và Chốc truyền nhiễm.

Hội chứng sốc nhiễm độc: thường gặp ở phụ nữ trẻ trong kỳ kinh nguyệt có dùng băng thấm hút mạnh. Chính do khả năng thấm hút tốt này mà băng có thời gian sử dụng lâu hơn. Một số loại bông thấm này có khả năng gắn với các ion magnesium do đó làm giảm lượng ion này trong âm đạo. Khoảng 20% phụ nữ có mang tụ cầu ở đường âm đạo. Do lượng ion magnesium giảm xuống, vi khuẩn này tăng cường sản xuất các ngoại độc tố gây sốc. Bệnh cảnh lâm sàng của hội chứng sốc nhiễm độc gồm đột ngột sốt cao, cảm giác mệt mỏi, tiêu chảy toàn nước, nhức đầu, đau cơ, nổi ban ngoài da và một hoặc nhiều dấu hiệu của sốc. Hội chứng này có tỉ lệ tử vong khá cao.

Hội chứng Thukydides: là thể đặc biệt của hội chứng sốc nhiễm độc. Hội chứng này có thể gặp ở thanh thiếu niên cả hai giới, thường gặp do bội nhiễm tụ cầu sau khi bị cúm. Tỉ lệ tử vong của hội chứng này rất cao (trên 50%). Biểu hiện lâm sàng về mặt hô hấp và tiêu hóa rất giống với bệnh dịch hạch do Thurykodides mô tả ở Athen và năm 430 trước công nguyên.

C. Bệnh do độc tố

Ngộ độc thực phẩm là bệnh điển hình nhất do độc tố ruột bền với nhiệt của tụ cầu. Sau khi ăn các thức ăn nguội hoặc kể cả các thức ăn nhiễm tụ cầu đã được nấu chín. Có thể phân thành hai thể:

Viêm dạ dày ruột: nguyên nhân do ăn phải các thức ăn nhiễm độc tố tụ cầu. Bệnh thường xảy ra trong thời gian ngắn với triệu chứng nôn mửa dữ dội, tiêu chảy phân tóe nước, không sốt. Bệnh thường lành nhanh chóng và không cần điều trị kháng sinh.

Viêm ruột non-đại tràng: nguyên nhân do thức ăn nhiễm một lượng lớn vi khuẩn tụ cầu (>105 vi khuẩn/g thức ăn) hoặc do vi khuẩn tăng sinh trong lòng ruột (có đến 2-30% số người mang vi khuẩn này trong ruột). Triệu chứng bệnh lý ở đường tiêu hóa như đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy kéo dài hơn và cần phải điều trị kháng sinh.

Ngộ độc thực phẩm do tụ cầu khuẩn vàng (Staphylococcus aureus) ở Việt Nam thường gặp trong các tiệc cưới. Vì phải chuẩn bị cho nhiều thực khách (bình quân khoảng 200 người) nên thức ăn cần phải được nấu trước và để qua đêm. Tụ cầu khuẩn nhiễm từ môi trường hoặc từ người chế biến sẽ sinh sôi rất nhanh trong các thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng thích hợp (thường gặp nhất là các món sốt trứng, thịt nguội), và sinh ra độc tố đường ruột. Độc tố này rất bền với nhiệt, do đó trước khi ăn có đun lại cho sôi cũng không huỷ được độc tố. Khi ăn phải thức ăn có nhiễm độc tố đường ruột, chỉ sau 30 phút đến 1 giờ là các triệu chứng nôn mửa, tiêu chảy đã xảy ra.

Dịch tễ học và phòng bệnh

Tụ cầu khuẩn thường chịu đựng tốt các thay đổi của môi trường như khô hạn, ánh nắng, nhiệt độ, thay đổi pH và độ mặn. Nhân viên y tế là những người có tỉ lệ mang vi khuẩn cực kỳ cao. Các biện pháp như mang mũ hoặc khăn trùm đầu, mạng che mặt hoặc khẩu trang và rửa tay thường xuyên là biện pháp phòng lây truyền vi khuẩn hữu hiệu nhất trong bệnh viện đặc biệt là trong các đơn vị hồi sức. Những biện pháp này cũng được áp dụng cho những người làm việc trong các bếp ăn tập thể hoặc trong các xưởng chế biến thực phẩm.

Tỷ lệ người mang vi khuẩn tụ cầu vàng trên da hoặc niêm mạc vào khoảng từ 10 đến 90%. Các khu vực cư trú thường gặp của tụ cầu vàng là tiền đình mũi, tóc, nách và nếp hậu môn. Đây là nguồn lây chéo trong các đơn vị hồi sức, đặc biệt là ở các bệnh nhân suy giảm miễn dịch như đái tháo đường, bệnh nhân AIDS hoặc xơ gan. Chủng vi khuẩn nguy hiểm trong các khu vực này là tụ cầu vàng đề kháng với methicillin.

2.1.1.2. Giống Streptococcus

Liên cầu là những vi khuẩn hiếu kị khí tùy ý, chỉ phát triển tốt ở môi trường có máu hoặc có các dịch của cơ thể khác. Những chủng gây bệnh thường đòi hỏi nhiều yếu tố phát triển

Cầu khuẩn gây bệnh bao gồm Tụ cầu, Liên cầu, Phế cầu và Neisseria. Đó là những vi khuẩn hình cầu và được gọi chung là cầu khuẩn sinh mủ. Trừ Neisseria, các cầu khuẩn sinh mủ đều Gram dương.

Liên cầu là những cầu khuẩn xếp thành hình chuỗi, phân bố rộng rãi ở trong thiên nhiên. Một vài loài là thành viên của khuẩn chí bình thường  ở người. Một vài loài gây nên những chứng bệnh quan trọng.

* Các nhiễm khuẩn tại chổ

Như viêm họng, viêm tỵ hầu, chốc lỡ, viêm quầng ở người lớn, nhiễm khuẩn các vết thương.

Các nhiễm khuẩn thứ phát

Như viêm màng trong tim cấp, sốt hậu sản hoặc nhiễm khuẩn huyết mà điểm xuất phát là từ da, tử cung hoặc từ vùng tị hầu.

Các di chứng của nhiễm liên cầu A

Đặc điểm của nhiễm khuẩn Liên cầu A là sự xuất hiện các di chứng 2-3 tuần lễ sau bệnh liên cầu, đặc biệt là sau viêm họng. Di chứng có thể là viêm cầu thận cấp hoặc thấp khớp cấp.

Viêm cầu thận cấp

 Xảy ra ở một số người 1-3 tuần lễ sau khi nhiễm liên cầu A, đặc biệt là nhiễm các typ 12, 4, 49 hoặc 57 ở họng hoặc ở da, do sự tác động của phức hợp kháng nguyên-kháng thể lên màng cơ bản của tiểu cầu thận. Triệu chứng là tiểu máu, phù thủng, cao huyết áp.

Thấp khớp cấp

Là một di chứng nghiêm trọng nhất vì nó đưa đến phá hủy cơ tim và van tim. Một vài chủng liên cầu A có kháng nguyên màng tế bào phản ứng chéo với sợi cơ tim. Huyết thanh của bệnh nhân thấp khớp cấp chứa kháng thể phản ứng  với những kháng nguyên đó. Thấp khớp cấp có xu hướng trở nên nghiêm trọng trong nhiễm trùng tái phát.

Tính miễn dịch

Sự đề kháng với liên cầu có tính chất đặc hiệu typ. Chỉ có kháng thể kháng M đặc hiệu typ có khả năng chống lại sự nhiễm trùng. Liên cầu A có trên 55 typ huyết thanh. Nhìn chung không người nào trở nên miễn dịch với tất cả  nhóm liên cầu A. Các kháng thể kháng Streptolysin O và kháng Streptokinase không có khả năng bảo vệ cơ thể.

Điều trị

Đối với liên cầu A phải điều trị sớm liều lượng đầy đủ với kháng sinh giết khuẩn như penicillin, erythromycin.

Đối với liên cầu viridans, liên cầu ruột, cần phối hợp kháng sinh giữa nhóm b lactamin và aminoglycosit như penicillin và streptomycin hoặc điều trị theo kháng sinh đồ.

FacebookGoogle+TwitterThêm...

2.1.2 Nhóm cầu khuẩn gram dương hình thành bào tử

* Bacillus

Từ bacillus nhằm miêu tả hình dáng của một nhóm vi khuẩn khi được quan sát dưới kính hiển vi. Nó xuất phát từ tiếng Latin có nghĩa là hình que. Do đó, một số nơi gọi là khuẩn que hoặc trực khuẩn.

Tuy nhiên, Bacillus (viết hoa và in nghiêng) là tên của một chi gồm các vi khuẩn hình que, Gam dươnghiếu khí thuộc về họ Bacillaceae trong Firmicutes.

Trực khuẩn có ở mọi nơi trong tự nhiên và khi điều kiện sống gay go, chúng có khả năng tạo ra bào tử gần như hình cầu, để tồn tại trong trạng thái "ngủ đông" trong thời gian dài. Loại sinh vật này có cực kỳ nhiều loài khác nhau, trong đó đa số là vô hại.

Hai loài được xem là quan trọng về mặt y học là Bacillus anthracis (gây ra anthrax) và Bacillus cereus (có thể gây ra một dạng bệnh từ thực phẩm tương tự Staphylococcus). Hai loài nổi tiếng làm hỏng thức ăn là Bacillus subtilis và Bacillus coagulansB. subtilis là một sinh vật hiếu khí sống ký sinh có bào tử có thể sống sót trong độ nóng cao thường thấy khi nấu ăn. Nó chính là tác nhân làm cho bánh mì hư. B. coagulans có thể phát triến đến tận mức pH 4.2 và gây ra vị chua nặng ở thức ăn đóng hộp bị ôi (bao gồm cả các thức ăn có tính acid mà bình thường có thể khống chế sự phát triển của đa số vi khuẩn ở mức thấp nhất). Ấu trùng Paenibacillus gây ra các chứng bệnh của ong mật ở ong mật.

Bacillus là vi khuẩn gam dương tính và catalase dương tính, sử dụng khí oxy làm chất nhận electron khi trao đổi khítrong quá trình trao đổi chất. Qua kính hiển vi Bacillus đơn lẻ có hình dạng giống những chiếc que, phần lớn những chiếc que này có bào tử trong hình oval có khuynh hướng phình ra ở một đầu. Thường thì người ta quan sát thấy tập đoàn của giống sinh vật này rất rộng lớn, có hình dạng bất định và đang phát triển lan rộng.

Có một cách dễ dàng để cô lập một loại trực khuẩn nào đó là cho đất tốt vào trong ống nghiệm cùng với nước, lắc đều, cho vào mannitol salts agar đã tan, và giữ ở nhiệt độ trong phòng ít nhất một ngày.

* Clostridium

Clostridium là một giống trực khuẩn Gram dương, thuộc ngành Firmicutes. Đây là những vi khuẩn kỵ khí bắt buộc có khả năng sinh nha bào khi môi trường sống bất lợi.[1][2] Tên của chúng bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp kloster (κλωστήρ) có nghĩa trục quay. Từ những đặc điểm điển hình trên, người ta xếp các vi khuẩn vào giống Clostridium, tuy nhiên gần đây nhiều chủng đã được phân loại vào các giống khác.

Bệnh học

Giống Clostridium bao gồm khoảng 100 loài có những chủng sống tự do trong môi trường và một số hiện diện như những mầm bệnh tiềm ẩn với con người.[4] Trong nhóm này có bốn vi khuẩn chủ yếu gây bệnh cho con người:

·         C. botulinum, có khả năng sinh độc tố trong thức ăn, vết thương gây ra bệnh độc thịt.

·         C. difficile, tồn tại như là mầm bệnh cơ hội thuộc hệ vi sinh vật ở ruột và phát triển khi có điều kiện nhất là trong liệu pháp chữa trị bằng kháng sinh và gây ra chứng viêm đại tràng màng giả

·         C. perfringens, ban đầu có tên C. welchii, là nguyên nhân gây ra một loạt các hội chứng khác nhau, từ ngộ độc thức ăn cho đến bệnh hoại thư sinh hơi. Loài này cũng sản sinh ra độc tố ruột huyết gây ra bệnh nhuyễn thận ở cừu và dê. Lợi ích của C. perfringens là thay thế nấm men trong phương pháp bánh mì muối.

·         C. tetani, gây ra bệnh uốn ván

Trong mật ong đôi khi có thể tồn tại nha bào của Clostridium botulinum, gây ra chứng độc thịt ở trẻ em một tuổi hay nhỏ hơn. Các vi khuẩn này sản shin độc tố ngộ độc thịt, cuối cùng sẽ khiến cho cơ hô hấp liệt. Người lớn và trẻ lớn tuổi hơn có thể ăn mật ong mà không bị bệnh vì clostridia không thể thích nghi trong đường tiêu hóa ở phần dạ dày ruột.

Một vài trường hợp tử vong ở những người phụ nữ sau khi sinh nở được ghi nhận là do C. sordellii.

Giống Clostridium đôi khi được tìm thấy trên những lồng chim kiểu Trung Quốc. Vì vậy những lồng chim này cần phải qua bước diệt khuẩn bằng sunfite trước khi nhập khẩu vào thị trường Mỹ

2.1.3 Nhóm trực khuẩn gram âm, yếm khí không bắt buộc                                                    

                                    Gioáng Escherichia    

Escherichiacoli (E. coli) do Echerich phát hiện lần đầu tiên năm 1885. Giống Escherichiađược chọn là đại biểu điển hình của họ vi khuẩn đường ruột. Giống này có nhiều loài, trong số đó E. coli có vai trò quan trọng nhất. E. coli sống bình thường trong ruột người và động vật, nhiều nhất ở ruột già (vùng hồi manh tràng). Vi khuẩn thường theo phân ra ngoài thiên nhiên, do đó ta thường thấy trong đất, nước, không khí.

HÌNH THỂ

–  E. coli là trực khuẩn, Gram (-).

–  Kích thước trung bình 2 – 3 x 0,5 micromet; kích thước này có thể thay đổi dài hay  ngắn tùy thuộc vào môi trường nuôi cấy.

–  Hầu hết các chủng có lông và có khả năng di động. Một số có vỏ bao quanh thân (nang – capsul).

–  Vi khuẩn không có nha bào.

 

KHẢ NĂNG VÀ CƠ CHẾ GÂY BỆNH

– Trong đường tiêu hóa, E. coli chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các vi khuẩn hiếu khí (khoảng 80%).

– Tuy nhiên, E. coli cũng là một vi khuẩn gây bệnh quan trọng, nó đứng đầu trong các vi khuẩn gây tiêu chảy, viêm đường tiết niệu, viêm đường mật; đứng hàng đầu trong các căn nguyên gây nhiễm khuẩn huyết.

–  E. coli có thể gây nhiều bệnh khác như viêm phổi, viêm màng não, nhiễm khuẩn vết thương.

– Tính kháng thuốc của  E. coli đứng thứ hai (sau S.aureus) trong các vi khuẩn gây bệnh thường gặp.

      *  Cơ chế gây bệnh ở đường ruột của E. coli khác nhau tùy loại:

–  ETEC: gây bệnh do ngoại độc tố LT (heat -lable), là loại độc tố ruột giống độc tố ruột của Vibrio cholera, độc tố này không bền với nhiệt. Tác dụng của LT trên tế bào ruột theo cơ chế: LT bám vào thụ thể ở ruột, hoạt hóa enzym adenylcyclase trong tế bào, làm gia tăng C -AMP (cyclic adenosine -5′ -monophosphate). C -AMP tăng sẽ kích thích tăng tiết ion Cl- và nước, đồng thời ức chế Na+ vào bên trong tế bào. Hậu quả cuối cùng của quá trình là gây tiêu chảy mất nước.

–  EIEC: gây bệnh do khả năng xâm nhập vào niêm mạc đại tràng. Cơ chế gây bệnh giống vi khuẩn lỵ.

–  EAEC: gây bệnh do bám vào niêm mạc và làm tổn thương chức năng ruột. Cơ chế của hiện tượng này chưa được sáng tỏ.

–  EHEC: cơ chế cũng chưa hoàn toàn rõ, nó cũng có một loại độc tố có cấu trúc kháng nguyên và cơ chế tác động giống với ngoại độc tố của S. shiga. Trong quá trình gây bệnh, EHEC làm tổn thương xuất huyết ở ruột.

–  EPEC: cơ chế gây bệnh chưa được biết rõ.

CHẨN ĐOÁN VI SINH VẬT

Chẩn đoán trực tiếp

Bệnh phẩm khác nhau tùy bệnh:

+  Là phân với nhiễm khuẩn đường tiêu hóa.

+  Nước tiểu với nhiễm khuẩn đường tiết niệu.

+  Máu nếu là nhiễm khuẩn huyết…

Có thể làm tiêu bản soi trực tiếp đối với một số loại bệnh phẩm như cặn ly tâm nước tiểu hoặc nước não tủy…

Chẩn đoán gián tiếp

Trên thực tế phương pháp chẩn đoán gián tiếp không được sử dụng để chẩn đoán các nhiễm khuẩn do E. coli.

PHÒNG BỆNH

Hiện nay chưa có phương pháp phòng bệnh đặc hiệu. Để đề phòng nhiễm khuẩn đường tiêu hóa do E coli, thực hiện các biện pháp phòng bệnh chung không đặc hiệu giống như đối với các vi khuẩn đường ruột khác.

Để phòng nhiễm khuẩn đường tiết niệu do E. coli: giữ vệ sinh thân thể, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc vô trùng khi phải tiến hành thăm dò hoặc đặt thông vùng tiết niệu.

ĐIỀU TRỊ

E. coli thuộc vào các vi khuẩn có tỷ lệ kháng thuốc cao, nhất là các chủng phân lập được từ nước tiểu, vì vậy cần phải làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh thích hợp.

Ngoài việc sử dụng kháng sinh, phải bồi phụ nước, điện giải trong trường hợp tiêu chảy; giải quyết các cản trở trên đường tiết niệu; rút ống thông sớm nếu có thể được

*. Gioáng Salmonella

Salmonella thuộc họ Enterobacteriaceae (vi khuẩn đường ruột) là một giống vi khuẩn hình que, trực khuẩn gram âm, kị khí tùy nghi không tạo bào tử, di động bằng tiên mao, sinh sống trong đường ruột, có đường kính khoảng 0,7 µmđến 1,5 µm, dài từ 2 µm đến 5 µm và có vành lông rung hình roi. Hầu hết các loài Salmonella có thể sinh hydro sulfuaSalmonella không lên men lactose (trừ Salmonella arizona) và sucrose nhưng lên men được dulcitolmannitol và glucose. Chúng kém chịu nhiệt nhưng chịu được một số hóa chất: brilliant green, sodium lauryl sulfate, selenite,...

Có hai loài vi khuẩn SalmonellaSalmonella bongori và Salmonella entericaSalmonella enterica được chia thành sáu phân loài và hơn 2500 serovar 

Salmonella được tìm thấy trên toàn thế giới trong cả động vật máu lạnh và động vật máu nóng, và trong môi trường.[3]Các chủng vi khuẩn Salmonella gây ra các bệnh như thương hàn (do Salmonella typhi), phó thương hàn, nhiễm trùng máu (do Salmonella choleraesuis) và ngộ độc thực phẩm (Salmonellosis). Các triệu chứng do Salmonella gây ra chủ yếu là tiêu chảyói mửa, buồn nôn xuất hiện sau 12 - 36 giờ sau khi tiêu thụ thực phẩm nhiễm Salmonella. Các triệu chứng thường kéo dài từ 2 - 7 ngày.

Tác nhân gây bệnh và khả năng nhiễm khuẩn

Salmonellosis (bệnh gây ra bởi vi khuẩn Salmonella) là bệnh có thể truyền nhiễm từ thú sang người và ngược lại. Ngoài ra, sự lây nhiễm cũng thường xảy ra qua thực phẩm, đặc biệt là qua trứng và thịt gia cầm.  Không giống như trước đây, ngày nay thịt heo hiếm khi bị nhiễm salmonella.

Theo dự đoán của WHO, trên toàn thế giới có hơn 16 triệu ca bệnh thương hàn hàng năm, hơn nửa triệu trong số đó là tử vong. Salmonella có khả năng sống sót hàng tuần bên ngoài cơ thể con người hoặc động vật. Ánh sáng mặt trời (tia UV) làm tăng tốc độ chết của các tác nhân gây bệnh. Trong phân khô, chúng còn có thể sống được 2,5 năm. Vi khuẩn không bị giết bằng cách đông lạnh. Trong môi trường axit, vi khuẩn Salmonella chết đi nhanh chóng và chất diệt khuẩn phổ biến giết chết chúng trong vòng vài phút. Ở nhiệt độ dưới 6 °C, mức tăng trưởng của chúng chậm hơn nhiều. Để ngăn ngừa nhiễm khuẩn salmonella, thực phẩm được khuyến cáo là khi chế biến ít nhất nên giữ ở nhiệt độ ở 75 °C trong ít nhất mười phút (nhiệt độ trong lõi), trứng tươi cần bảo quản trong tủ lạnh.

Riêng tại Việt Nam đã có nhiều trường hợp ngộ độc hàng loạt vì trực khuẩn Salmonella, như là tại Thành phố Đồng Hới với gần 250 người phải nhập viện từ ngày 14 tháng 10 năm 2015 vì bánh mì thịt, bánh mì trứng nhiễm khuẩn,[6] gần 800 công nhân tại Tiền Giang phải nhập viện từ ngày 3 tháng 10 năm 2013. Tại TP Hồ Chí Minh, trong đợt giám sát thí điểm năm 2013, sau khi lấy 1.618 mẫu tại chợ đầu mối Bình Điên, Hóc Môn, Thủ Đức đã phát hiện Salmonella trong 30% mẫu thịt heo và 45% trong mẫu thịt gà.[8]

Khả năng nhiễm khuẩn

Nhiễm khuẩn Salmonella có thể là do:

·         không bảo đảm an toàn thực phẩm trong khâu chế biến, đặc biệt là trong các nhà bếp lớn phục vụ nhiều thực khách, bởi các chất bài tiết (nước bọt, nước tiểu, phân và nước dịch cơ thể khác) của người bệnh, ngay cả trong trường hợp bệnh chưa phát và người bệnh được xem là khỏe mạnh khi khám nghiệm lâm sàng; và động vật, đặc biệt là từ các loài bò sát không bị phát hiện nhiễm bệnh (tỷ lệ nhiễm là 90%), một mối nguy hiểm, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ, bởi mặt nước bị ô nhiễm và nước tù đọng (ví dụ như trong ống vòi sen và các thiết bị truyền nước mà không được sử dụng lâu dài trước đó) bởi sự không vệ sinh của gia cầm đông lạnh khi làm tan đá (nhiều vi khuẩn có trong nước đông) bằng trứng tươi sống đến từ gia cầm bị nhiễm khuẩn salmonella (thường là salmonella chỉ có trên vỏ trứng, nhưng cũng có thể lọt vào trong nếu vỏ trứng bị hư hay là rạn nứt, hay là qua tay người), thường gây ngộ độc khi ăn trứng hoặc sản phẩm gia cầm chưa chế biến kỹ hoặc nấu chín. Nhưng cũng có thể qua sữa chưa được tiệt trùng, cá ngừ sống,  dưa chuột,  cà chuagiá đỗ nhiễm khuẩn.

Cách phòng tránh

Rửa sạch tay (với xà bông) sau khi đi vệ sinh, thay tã, chạm vào động vật và trước khi ăn hoặc chế biến thức ăn.[

* Gioáng Pasteurella             

Pasteurella multocida thuộc gống Pasteurella. Giống Pasteurella gồm những cầu trực khuẩn nhỏ, ngắn, có hình trứng hay bầu dục, khi nhuộm thường ăn màu đậm ở hai đầu nên đƣợc gọi là vi khuẩn lƣỡng cực, không di động, không sinh nha bào, Gram -.

Căn cứ vào tính chất gây bệnh cho động vật, ngƣời ta chia thành 3 loại chính: - Loại gây bại huyết, xuất huyết cho gia súc gồm Pasteurella multocida, Pasteurella haemolytica.

- Loại gây bệnh truyền nhiễm cho loại gậm nhấm, có thể truyền cho ngƣời gồm: P. tularensis, P. pestis (Yersinia pestis).

- Loại gây bệnh truyền nhiễm mãn tính cho loài gậm nhấm:

P. pseudotuberculosis.

* Đặc điểm tổng quát Pasteurella multocida gây bệnh bại huyết cho nhiều loài gia súc – gia cầm, gọi là bệnh Tụ huyết trùng hay bệnh toi (Pasteurellosis, Septicemia hemorrhagica). Bệnh Tụ huyết trùng là một bệnh truyền nhiễm, gây ra do trực khuẩn Pasteurellosis thể hiện triệu chứng tụ huyết, xuất huyết ở những vùng đặc biệt trên cơ thể, sau cùng xâm nhập vào máu, gây bại huyết toàn thân. Tụ huyết trùng phân bố rộng rãi trong thiên nhiên, trong đất, nƣớc, phân, có thể ở hạch hạnh nhân, phần trên của đƣờng hô hấp của heo khỏe.

+ Tính gây bệnh:

- Trong tự nhiên: Vi khuẩn gây bệnh cho nhiều loài động vật và gia cầm, gây chứng bại huyết kèm theo tụ huyết và xuất huyết ở các tổ chức, niêm mạc và phủ tạng. Vi khuẩn sống trong đất ẩm tối, vùng đầm lầy ẩm ƣớt. Vào mùa mƣa hoặc khi nƣớc dâng cao, vi khuẩn đƣợc nƣớc đƣa lên trên bám vào cỏ, rồi vào cơ thể gia súc nhất là trâu bò, qua đƣờng tiêu hóa do những vết xây xác trên niêm mạc đƣờng tiêu hóa. Vi khuẩn vào bộ máy lâm ba, hạch sau hầu, hạch lâm ba đƣờng tiêu hóa rồi chuyển sang hạch vai, hạch khí quản gây sƣng thủy thủng ở hầu, cổ, vai. Vi khuẩn cũng thường sống trong đƣờng tiêu hóa và hô hấp của gia súc khỏe, hay súc vật khỏi bệnh. Khi thời tiết thay đổi bất thƣờng nhƣ lúc giao mùa, sức đề kháng của con vật giảm, vi khuẩn sẽ phát triển và gây bệnh. Vi khuẩn cũng có thể gây bệnh trong trƣờng hợp con vật bị nhiễm bệnh truyền nhiễm khác tạo nên bệnh ghép. Bệnh thƣờng xảy ra ở các nƣớc nhiệt đới và á nhiệt đới.

 + Đối với trâu bò: loại Tụ huyết trùng thích nghi với trâu bò gây bệnh cho trâu bò với các triệu chứng nhƣ: sốt, lừ đừ, niêm mạc mắt mũi đỏ, chảy nhiều nƣớc mũi, viêm ruột, viêm phổi, thủy thủng hạch lâm ba, da. Trâu bò bệnh có thể lây cho heo, cho ngựa. Ở nước ta trâu bệnh nặng hơn bò.

+ Đối với heo: heo từ 3-6 tháng tuổi dễ mắc bệnh. Heo bị viêm hầu có thủy thủng, viêm màng ngoài tim, phúc mạc có tƣơng dịch, viêm phổi có vùng gan hóa.

+ Đối với gia cầm: gà, gà tây, vịt, ngỗng, bồ câu…đều có thể mắc bệnh. Gà mắc bệnh Tụ huyết trùng có bệnh tích viêm màng ngoài tim có tƣơng dịch, viêm cuống phổi và phổi, gan sƣng có nhiều điểm hoại tử vàng.

- Trong phòng thí nghiệm: Thỏ và chuột bạch rất mẫn cảm với các chủng Pasteurella. Tiêm canh trùng dƣới da, phúc mạc hay tĩnh mạch, con vật chết sau 1-2 ngày.  Các type huyết thanh học. Pasteurella có tính kháng nguyên tương hổ tức là chủng này có tính kháng nghuyên tƣơng đối với chủng khác, có miễn dịch chéo giữa các chủng. Trong những công trình nghiên cứu gần đây, các tác giả đã phân loại Tụ huyết trùng thành các type huyết thanh học dựa trên sự cấu tạo khác nhau của vỏ nhầy vi khuẩn. Có hai hệ thống phân loại phổ biến là phân loại theo Robert và Carter. Robert chia Tụ huyết trùng thành 5 type: - Type I: chủ yếu gây bệnh cho trâu bò. - Type II: gây bệnh cho gia cầm. - Type III, type IV: phân lập từ các loài vật khác nhau, gây những triệu chứng cục bộ nhƣ viêm phổi… - Type V: gây bệnh cho heo. Certer chia Tụ huyết trùng ra làm 4 type: - Type A: gây bệnh Tụ huyết trùng cho gà và nhiều loại động vật khác. - Type B: gây bệnh Tụ huyết trùng cho heo, trâu bò ở các nƣớc Châu Á, Trung Đông và Nam Châu Phi. - Type D: độc lực thấp, phân lập đƣợc trên nhiều cơ thể động vật. - Type E: gây Tụ huyết trùng cho heo, trâu bò ở Trung Mỹ. * Chẩn đoán Vi khuẩn học Kiểm tra trên kính hiển vi Lấy phổi, lá lách, gan, phết lên phiến kính, nhuộm Gram,

* Phòng bệnh và Trị bệnh:

 Pasteur là người đầu tiên nghiên cứu vaccine phòng bệnh Tụ huyết trùng gia cầm từ vi khuẩn giảm độc nhưng kết quả không cao. Những năm gần đây, vaccine gồm nhiều chủng vi khuẩn giảm độc, cho uống để phòng bệnh cho gà. Vaccine chết có formol keo phèn đang đƣợc sử dụng rộng rãi ở nước ta. Tiêm phòng bằng vaccine khi chƣa có dịch liều lƣợng 2-3ml, tiêm dưới da, 7-15 ngày có miễn dịch, miễn dịch kéo dài 6-7 tháng. Các loại thuốc sau đây đang đƣợc sử dụng trong điều trị: Penicillin, Streptomycin, Tetracyclines, Sulphonamides gồm Sulfamrazine và Sulfamethazine. Sulfaquinoxaline rất tốt để trị Tụ huyết trùng cho gia cầm. Tất cả các loại gia súc và gia cầm khi đã mắc bệnh hoặc phát hiện thấy bệnh thì phải điều trị ngay. Điều trị sớm mới có kết quả, nếu để quá muộn khó cứu. Có thể dùng huyết thanh đơn giá hay đa giá: đối với bê, nghé liều tiêm 20-40ml. Trâu, bò 60- 100ml, liều lƣợng không quá 100-120ml, dùng Sulfamethazine tiêm tĩnh mạch dung dịch 6% với liều 0,13g/l kg trọng lượng. Cho uống 0,2g/1kg trọng lượng. Liều dùng 3- 5 ngày. Streptomycine 40-60mg/1kg trọng lƣợng.Trường hợp nặng có thể kết hợp Sulfamethazine + Penicilline (100.000UI/1kg trọng lượng, cứ 3 giờ tiêm 1 lần). Suldadimethoicine 30-50mg/I kg trọng lƣợng. Sulfamethocipirydazol 30-40mg/1kg trọng lượng cho uống 2 ngày liền. Kynamycine 30-50mg/1kg trọng lƣợng. Tất cả các thuốc trên tuỳ theo trường hợp nặng nhẹ mà dùng chứ không phải dùng một lúc tất cả.    

2.2. Nhóm vi nấm

2.2.1. Beänh naám da

Bệnh do một số loài nấm ký sinh ở da và lông gây ra, trong điều kiện nóng ẩm của nước ta bệnh thường xảy ra ở bê, nghé dưới một năm tuổi. Các khuẩn ty và bào tử nấm xâm nhập vào da lông do gia súc tiếp xúc môi trường chuồng trại, bãi chăn thả, dụng cụ, thức ăn có mầm bệnh hoặc gia súc đang bị nhiễm nấm.

 

Triệu chứng: Thể hiện ba dấu hiệu đặc trưng:

- Các mụn sùi loét trên da có phủ vảy vàng xám hoặc nâu sẫm, cạy vảy ra, phía dưới có loét đỏ. Các đám da sần sùi loét có thể tập trung từng đám hoặc riêng rẽ.

- Các đám da bị sần sùi, nhăn nheo, dầy cộm trên mặt da nhưng không bị lở loét, lông rụng từng đám.

- Trên da nổi các mụn cóc to nhỏ khác nhau bị sừng hoá sần sùi màu xám hoặc nâu nhạt rải rác ở hai bên sườn, mông, vai và thường gặp ở bê, nghé 6 - 12 tháng tuổi.

 Phòng bệnh:

- Tắm chải gia súc hàng ngày

- Chuồng trại khô ráo, tháng mát, có sân bãi chăn thả cho gia súc tắm nắng. Định kỳ sát trùng chuồng trại bằng Vimekon 1/200, 15 ngày/lần.

- Thường xuyên kiểm tra phát hiện gia súc bệnh để cách ly điều trị.

 Điều trị:

- Dùng Vimekon pha nồng độ 1/100 bôi vào các đám da lông bị nấm, mỗi ngày 1 - 2 lần, bôi liên tục cho đến khi khỏi bệnh.

- Phối hợp tiêm Penstrep – suspension 1ml/20kg thể trọng và Vemectin 1ml/15kg trọng lượng để phòng nhiễm trùng và ve. ghẻ gây bệnh kế phát.

- Giữ không cho ruồi, mòng bu đậu và tiêm thêm Poly AD để chỗ da tổn thương chóng hồi phục.

2.2.2. Beänh naám dưới da

Nấm sâu Chromomycois (nấm hạt màu) là một bệnh nấm mãn tính khu trú ở da và mô dưới da, tổn thương đặc trưng là tăng sừng giống mụn cóc hay hình bông cải, lâu dài gây biến dạng ở chi. Bệnh xảy ra khắp thế giới nhưng thường gặp ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới. Vi nấm gây bệnh có trong đất, gỗ mục, lá cây mục xâm nhập vào da qua chấn thương gây rách da. Hay gặp ở nam nhiều hơn nữ, tuổi 20-60. Đối tượng hay gặp là nông dân, người đi chân đất, công nhân hầm mỏ, công nhân môi trường,...

Vi nấm gây bệnh thường gặp nhất là Fonsecaea pedrosol, các chủng khác: F.compacta, Phialophora verrucosa, Cladosporium carrionii,...

. Triệu chứng lâm sàng

Bệnh xuất hiện tại vị trí chấn thương mà trước đó người bệnh không chú ý‎ hoặc không nhớ. Cơ năng: ngứa nhẹ, không đau..

Thực thể: Tổn thương đầu tiên là nốt hay sẩn vẩy nhỏ, màu hồng, nhô cao so với mặt da, giới hạn rõ, bề mặt sùi như bông cải. Thời gian sau (vài tháng vài năm), một đợt tổn thương mới xuất hiện xung quanh là những cục có vảy hơi tím, bề mặt giống như mụn cóc, tiến triển ly tâm, trung tâm lành nhưng thường lớn dần và tập hợp lại thành từng đám, lâu ngày giống như bông cải. Bề mặt có nhiều mụn mủ, vết loét nhỏ. Tổn thương vệ tinh có thể có do cào gãi tự thâm nhiễm hay thông qua mạch bạch huyết.

Tổn thương không có sự xâm nhập vào cơ và xương bên dưới, rất hiếm lan tràn theo đường máu đến não gây ổ abcess. Trong trường hợp viêm nhiễm kéo dài dẫn đến phù bạch huyết ở chi (phù chân voi). Vị trí: không đối xứng ở chân, bàn chân; có thể có ở bàn tay, lưng ngực.

.Điều trị

Thuốc kháng nấm toàn thân (không chỉ định điều trị cho trẻ em)Itraconazole: 100mg x 2 lần/ngày hoặc 3 lần/ngày hoặc 200mg 2 lần/ngày, phụ thuộc vào đáp ứng và nhạy cảm, thời gian điều trị kéo dài nhiều tháng tới nhiều năm cho đến khi lành thương tổn.Terbinafine: 500-1000 mg/ngày kéo dài trong nhiều tuần.Flucytosine: 50-100 mg/kg/ngày chia 6 giờ 1 lần.

2.2.3. Beänh nm ph tng  

♦ Nguyên nhân:

Thuộc nấm mốc: Aspergillus fumigatusAspergillus flavus gây bệnh trên phổi và nội tạng.

Thuộc nấm men: Candida albican gây bệnh trên đường tiêu hóa, da dày và ruột.

Bệnh xảy ra trên tất cả gia cầm và chim: vịt và ngỗng cảm thụ mạnh nhất sau đó đến gà tây, gà và gà sao mắc bệ nhít phổ biến hơn.

Lứa tuổi 1–3tuần tuổi; nhưng cũng có thể 6–7 tuần tuổi, gia cầm trưởng thành mắc bệnh với tỷ lệ thấp hơn.

Điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển: nhiệt độ 25 – 37oC, độ ẩm cao, ngoài ra chuồng nuôi vê sinh kém, NH3 cao hoặc gia cầm bị lanh, stress sẽ làm tăng tỷ lệ nhiễm bệnh

Bào tử nấm ở khắp mọi nơi, ở thực vật thối rữa, đất, hạt ngũ cốc , gia cầm bệnh, trứng bệnh…

              ♦ Đường truyền lây

Lây qua đường hô hấp hít thở phải bào tử nấm trong môi trường chuồng nuôi.

Lây qua niêm mạc mắc do gió thổi đưa bào tử nấm vào màng kết mạc.

Lây qua máy ấp đã bị nhiễm nấm, khi gà con nở ra hít thở phải bào tử nấm.

Lây qua dụng cụ, hộp đựng gà con đã bị nhiễm nấm, khi bỏ gà vào thì chúng bị lây nhiễm qua hít thở.

Ngoài ra bệnh con lây qua trứng.

            ♦ Triệu chứng

Giảm ăn, ủ rũ, chân khô, mắt hơi mờ và chảy nước, khó thở, tiêu chảy phân trắng, xanh có thể phân sống và chứa nhiều nước. Nếu bệnh nặng thì gia cầm có triệu chứng thần kinh: co giật, đi lệch mình, sau đó bại liệt rồi chết:

Trên gia cầm đẻ: tỷ lệ đẻ giảm, trứng nhỏ và vỏ trứng mỏng.

ANH 1

 ♦ Bệnh tích

anh 2

anh 3

 

anh 4

anh 5

anh 6

 

Thực tế hiện nay đàn gia cầm không đơn thuần chỉ nhiễm nấm, mà nó ghép rất nhiều bệnh khác như CRD, Viêm ruột hoại tử, Cầu trùng… làm cho bệnh trầm trọng hơn gây rất nhiều khó khăn trong công tác điều trị.

              ♦ Phòng bệnh

Thức ăn phải đầy đủ dưỡng chất và cho ăn đúng khẩu phần

Thay chất độn chuồng thường xuyên

Không để thức ăn và nước rơi xuống chuồng làm ẩm ướt môi trường chuồng nuôi.

Phun các thuốc sát trùng và diệt nấm ở chuồng trại, máng ăn, máng uống, lò ấp bằng dung dịch formol 2-3%, sulfat đồng (CuSO4) 1%.

Vệ sinh máy ấp: xông máy ấp bằng Formon 40ml/m3/24 giờ

            ♦ Trị bệnh

§  Trị căn nguyên: Dùng một trong các loại thuốc

Thuốc tím 1% cho uống

Nystatin: Trộn 5,5 g/kg TĂ.

Dung dịch CuSO4 1/2000

§  Giải độc gan thận:

Giải độc gan: Heparenol 1ml/lít nước

Giải độc thận: Phosretic 1g/lít nước

§  Tăng sức đề kháng: Glucose, Vitamin C, Bcomplex…

2.3. Nhóm virus

2.3.1. Nhóm virus ADN

Bệnh Parvovirus trên heo

Nguyên nhân

Bệnh này còn gọi là “Bệnh thai gỗ”. Bệnh chủ yếu lây qua đường tiêu hoá, hô hấp, sinh dục và truyền qua nhau thai. Porcine Parvovirus lưu hành khắp nơi trên thế giới và là nguyên nhân chủ yếu gây chết phôi và chết thai, ngoài ra nó có thể làm tăng các ảnh hưởng của virút PCV2 trong Hội chứng còi cọc sau cai sữa. Porcine Parvovirus là loại ADN virút, có kích thước rất nhỏ (20nm), không vỏ bọc tồn tại lâu trong cơ thể heo và bền vững cao với điều kiện môi trường bên ngoài.

Triệu chứng

Virút cảm nhiễm trên heo trưởng thành thì không thể hiện triệu chứng, nhưng trên heo nái có mang thì tùy thuộc vào việc virút cảm nhiễm ở giai đoạn nào của thời kỳ mang thai mà heo nái sẽ có những biểu hiện rối loạn sinh sản khác nhau. Khi cảm nhiễm ở giai đoạn bắt đầu của thời kỳ có mang thì chết phôi và heo nái chậm lên giống, giảm số heo trong lứa đẻ do chết một phần phôi.

Khi cảm nhiễm phôi sau ngày 35 của kỳ có mang (lúc bắt đầu canxi hóa xương sườn) sự hấp phụ hoàn toàn không thể xẩy ra mà có dáng dấp của sự “hóa gỗ”. Sự hóa gỗ có thể xảy ra ở một số phôi thai hay toàn bộ, thai chết ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhau nên kích thước thai gỗ cũng khác nhau, đây là một trong những điểm đặc biệt sử dụng trong chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác.

Nếu cảm nhiễm chậm hơn sẽ sinh ra những heo con chết ngay hoặc chết lúc sinh. Sự nhiễm bệnh ở heo đực không gây ảnh hưởng gì đến khả năng sinh dục của chúng.

Chẩn đoán

Cần lưu ý đến bệnh do Porcine Parvovirus khi heo có biểu hiện về sự chết phôi hoặc chết thai hoặc cả hai trong chẩn đoán phân biệt với các bệnh gây rối loạn sinh sản khác.

Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm: phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu và phản ứng trung hòa virút dùng để phát hiện hiệu giá kháng thể chống lại porcine parvovirus, phát hiện virút bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang, PCR, lai tại chỗ và phân lập virút với bệnh phẩm là thai khô hoặc phổi của thai khô.

Phòng và trị bệnh

Điều trị: không có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh này.

Phòng bệnh: Cách ly nghiêm ngặt những heo nái hậu bị mới đưa vào trại và theo dõi hàng ngày. Kiểm tra định kỳ tinh dịch để loại bỏ các heo đực nhiễm Porcine Parvovirus vì là nguồn truyền lây lan cho heo nái qua đường giao phối.

Tạo miễn dịch chắc chắn trên nái hậu bị trước khi phối giống bằng cách cho heo nái hậu bị tiếp xúc với nái đẻ và đực giống để được lây nhiễm tự nhiên nhằm tạo miễn dịch trước khi phối giống lần đầu, cách thứ hai là tiêm vắcxin.

Tiêm phòng cho đàn heo cảm nhiễm là cách tốt nhất tránh thiệt hại do bệnh gây nên. Tiêm phòng cho heo đực và nái hậu bị 2 liều cách nhau 15 – 21 ngày, liều thứ hai thực hiện trước khi phối giống 14 ngày. Heo nái được tiêm một liều duy nhất thời điểm cai sữa. Heo nọc 6 tháng tiêm một lần.

*Viêm ruột do Parvovirus trên chó

Căn nguyên: Canine parvovirus (CPVs) là những virus nhỏ, không vỏ được nhân lên bằng cách phân chia tế bào rất nhanh. CPVs có 3 chủng: CPV 2a (phân lập 1984), 2b (phân lập 1984), 2c (phân lập 2000).

 

Triệu chứng lâm sàng: Sự nhiễm CPV biểu hiện ở 3 điểm chính: hệ tiêu hóa (GI), tủy xương và cơ tim nhưng da và mô thần kinh cũng bị ảnh hưởng.

Chẩn đoán: Chó tiêu chảy lẫn máu xảy ra ít, tình trạng tiêu chảy không xuất huyết thì xảy ra thường xuyên hơn trên chó bị nhiễm CPV. Những chó bị chết do bệnh thì có tổng số lượng bạch cầu bằng hoặc thấp hơn 1030 tế bào/microlit máu. Ở chó bị Parvo thể ruột, cholesteron huyết thanh và cholesteron lipoprotein nồng độ cao thì bị suy giảm và nồng độ triglyceride thì tăng lên. Ngược lại, sự tăng nồng độ cholesteron thì tỷ lệ với mức độ trầm trọng của bệnh. Nồng độ cortisol huyết thanh cao và thyroxin thấp sau 24-48 h trong quá trình chăm sóc.

Điều trị: Mục đích chính của việc điều trị các triệu chứng của PCV đường ruột là cân bằng lại nước và chất điện giải cũng như ngăn ngừa sự nhiễm trùng thứ phát. Các chất kháng khuẩn (Ampimicine, Ceftiofur, Gentamycine…), điều hòa vận động (Chlopromazine, Metoclopamide…) và các chất chống nôn (Cimetincine, Raniticine). Cung cấp nước có lẽ là phương pháp điều trị quan trọng nhất trong điều trị các triệu chứng lâm sàng.

2.3.2. Nhóm virus ARN                  

BỆNH CÚM GIA CẦM

1. NGUYÊN NHÂN

·         Do vi rút cúm gia cầm thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra, với đặc tính biến chủng liên tục, đến nay đã có những nhánh gây bệnh chủ yếu: Clade 1.1, Clade 2.3.2.1 A, Clade 2.3.2.1 B, Clade 2.3.2.1 C.

·         Tất cả gia cầm các lứa tuổi đều có thể mắc bệnh song phổ biến nhất là ở gà từ 4 - 8 tuần tuổi, vịt và ngan là nguồn mang trùng. Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng dễ bùng phát vào mùa đông, xuân.

2. TRIỆU CHỨNG

·         Gà sốt cao, uống nhiều nước.

·         Gà khó thở, viêm mũi, viêm xoang, chảy nước mắt, nước mũi, ho hen, hắt hơi, vảy mỏ.

·         Mào tích thâm, tím tái, sưng phù, hoại tử.

·         Tiêu chảy phân xanh, phân trắng, phân vàng.

·         Xuất huyết da chân.

·         Tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ chết cao.

3. BỆNH TÍCH

·         Viêm đường hô hấp trên, viêm túi khí.

·         Xuất huyết trên bề mặt các cơ và các cơ quan nội tạng như gan, tim, tụy, lách và thận.

·         Xuất huyết cơ đùi, cơ ngực, cơ tim, vành tim và mỡ bụng.

·         Xuất huyết dạ dày tuyến, ruột non, van hồi manh tràng, niêm mạc hậu môn…

4. PHÒNG VÀ XỬ LÝ BỆNH

PHÒNG BỆNH

Bệnh không có thuốc điều trị đặc hiệu, do vậy sử dụng vắc xin là một biện pháp hữu hiệu, tích cực để phòng bệnh cúm gia cầm.

·         Chủ động tiêm phòng vắc xin cúm H5Nlúc 2 tuần tuổi, 5 tuần tuổi và trước khi đẻ 15 ngày. Sau đó định kỳ tiêm phòng mỗi năm 2 lần vào tháng 4 và tháng 10.

·         Tạo một hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, rắc vôi bột xung quang chuồng và lối đi.

Định kỳ phun thuốc sát trùng chuồng trại:

* Bệnh Lở mồm, long móng

 1. Nguyên nhân gây bệnh lở mồm long móng gia súc.

Bệnh lở mồm, long móng gia súc (LMLM) là bệnh truyền nhiễm, lây lan nhanh, gây ra bởi 1 trong 7 type vi rút: Type A, O, C, Asia1, SAT1, SAT2, SAT3, với hơn 60 phân type. ở Việt Nam đã phát hiện bệnh gây ra bởi 3 type A, O và  Asia1. Bệnh LMLM lây lan qua đường tiếp xúc giữa động vật khoẻ với động vật, sản phẩm động vật, thức ăn, nước uống, không khí, chất thải, dụng cụ, phương tiện vận chuyển, có măng mầm bệnh. Bệnh lây lan từ vùng này sang vùng khác, tỉnh này sang tỉnh khác, nước này sang nước khác theo đường vận chuyển động vật, sản phẩm động vật ở dạng tươi sống (kể cả thịt ướp đông, da, xương, sừng, móng, sữa, lông,... ). Động vật mắc bệnh LMLM là các loài động vật có móng guốc chẵn như: trâu, bò, lợn, dê, cừu, hưu, nai,...

Theo Tổ chức Thú y thế giới (OIE), đây là bệnh dịch xếp đầu tiên ở bảng A (gồm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất cho chăn nuôi và hạn chế thương mại đối với động vật, sản phẩm động vật).

2. Triệu chứng bệnh LMLM gia súc.

Thời kỳ ủ bệnh LMLM gia súc thường từ 2 -5 ngày (đối với trâu, bò) và 5- 7 ngày (đối với lợn), nhiều nhất là 21 ngày. Khi phát bệnh gia súc có triệu chứng: trong 2 - 3 ngày đầu gia súc sốt cao trên 40oC, mệt mỏi, lông dựng, mũi khô, da nóng; đứng lên, nằm xuống khó khăn, kém ăn; miệng chảy nhiều nước dãi có bọt; bị viêm dạng mụn nước ở lợi, vành mũi, vành móng, kẽ móng chân, đầu vú. Khi mụn nước vỡ ra sẽ làm lở, loét ở mồm, móng chân; bệnh nặng có thể làm long móng, nhất là ở lợn. Con vật đi lại khó khăn, thường đi khập khiễng, run rẩy. Ngoài ra, đối với bò khi bị bệnh thường hay nâng chân lên rồi lại hạ chân xuống nhiều lần, ở lợn thì thường hay ở tư thế ngồi hoặc quỳ hai đầu gối chân trước.

Sau phát bệnh từ 10 đến 15 ngày, con vật có thể khỏi về triệu chứng lâm sàng, nhưng mầm bệnh vẫn tồn tại trong con vật từ 3-4 tuần (đối với lợn), 4 tháng (đối với dê), 9 tháng đối với cừu, 2-3 năm (đối với trâu, bò) và tiếp tục thải mầm bệnh ra môi trường làm phát sinh và lây lan dịch bệnh.

3. Phòng bệnh lở mồm long móng.

Bệnh LMLM có thể hạn chế được thiệt hại đáng kể bằng các biện pháp  vệ sinh phòng dịch, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, tiêm phòng vắcxin.

- Tăng cường công tác tuyên truyền để mọi người hiểu biết về nguyên nhân, triệu chứng, tác hại và cách phòng, chống bệnh bệnh LMLM.

- Thực hiện tiêm phòng vắcxin, nhất là vùng khống chế, vùng đệm, vùng có dịch xảy ra trong vòng 2 năm gần đây. Thực hiện tiêm phòng hai lần trong một năm, lần thứ nhất cách lần thứ hai 6 tháng, lần thứ nhất nên tiêm vào tháng 3 - 4 trong năm, lần thứ hai nên tiêm vào tháng 9 - 10  trong năm.

4. Chữa bệnh LMLM gia súc.

Vi rút LMLM dễ bị bởi ánh nắng mặt trời, nhiệt độ cao (như nước đun sôi 100oC), các chất có độ toan cao như quả khế chua (pH ³ 3) và các chất kiềm mạnh như xút (pH ³ 9). Vi rút có thể sống nhiều ngày trong chất thải hữu cơ ở chuồng nuôi, các chất có độ kiềm nhẹ (pH từ 7,2 - 7,8); trong thịt ướp đông vi rút có thể sống trong nhiều tháng.

Khi bị nhiễm bệnh LMLM, nếu không được điều trị kịp thời, gia súc non thường bị chết ở tỷ lệ từ 20 – 50%, gia súc trưởng thành thường bị chết từ 2 – 5%, tỷ lệ mắc bệnh trong một đàn thường là 100%. Đến nay, LMLM chưa có thuốc chữa trị đặc hiệu, chỉ có thuốc chữa triệu chứng. Chữa triệu chứng nhằm làm cho vết thương nhanh chóng lành thành sẹo và không gây ra các biến chứng nguy hiểm làm chết gia súc.

- Chữa miệng: Dùng các chất sát trùng nhẹ, các loại quả chua như khế, chanh bóp mền, rưới nước (hoặc bơm xịt nước), trà đi, sát lại ở lưỡi, mặt trong má, hàm trên, lợi, bỏ bã vào miệng cho con vật nhai..

- Chữa móng: Rửa sạch chân gia súc bằng nước muối, nước lá chát, hoặc thuốc tím, phèn chua, dấm ăn; sau đó bôi các chất sát trùng hút mủ, nhanh lên da non lên vùng móng bị bệnh (bột xoan trộn với dầu lạc, diêm sinh). Để đề phòng ruồi nhặng đẻ trứng vào kẽ móng, có thể dùng Cresin pha loãng hoặc dùng thuốc lào, một ít băng phiến đắp vào vết thương.

- Chữa vú: Rửa mụn loét bằng nước muối ấm, dung dịch axit boric 2-3% hoặc nước xà phòng, sau đó bôi dầu cá, các thuốc sát trùng vào vết thương.

- Chăm sóc cho gia súc, đảm bảo giữ chuồng khô ráo, sạch sẽ, lót chuồng dày cho gia súc nằm, cho ăn cỏ tươi, cỏ mền; bổ sung cho gia súc ăn cháo khi bị bệnh nặng.

Cùng với việc điều trị bệnh, cần tiến hành tiêu độc khử trùng chuồng trại, môi trường xung quanh khu vực có gia súc bị bệnh và các vật dụng có liên quan đến gia súc ốm, chết; thực hiện nuôi nhốt, cách ly gia súc,... theo hướng dẫn của cán bộ thú y. Đối với vùng lần đầu tiên phát hiện có dịch, diện dịch hẹp, số lượng gia súc mắc bệnh ít hoặc mắc bệnh do vi rút type mới gây ra, thì biện pháp hiệu quả nhất là tiêu huỷ toàn bộ gia súc nhiễm bệnh, để nhanh chóng dập tắt ổ dịch./.